CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG THỊT LỢN 1. Tổng quan về chuỗi cung 1. Nguồn gốc chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng là một giai đoạn phát của lĩnh vực logistic (hậu cần).
Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Đến cuối thế kỷ 20, Logistic được ghi nhận như là một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công ty cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ. Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương ghi nhận logistics đã phát triển qua ba giai đoạn: + Giai đoạn 1: Phân phối Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách hiệu quả nhất. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau: Vận tải, phân phối, bảo quản hàng hoá, quản lý kho bãi, bao bì, nhãn mác, đóng gói.
+ Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào cùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và phân phối sản phẩm. + Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng. Khái niệm quản trị dây chuyền chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin. Khái niệm chuỗi cung ứng Khái niệm về chuỗi cung ứng hiện nay đối với các nhà quản trị Việt Nam vẫn còn khá mơ hồ và hầu như chưa được quan tâm đúng với tầm quan trọng của nó.
Ngược lại, trên thế giới thì “chuỗi cung ứng là một tài sản chiến lược”. Các công ty 6 dẫn đầu như Wal – Mart và Dell hiểu rằng chuỗi cung ứng có thể là một sự khác biệt mang tính sống còn. Họ liên tục tìm ra những cách thức để tạo thêm giá trị và mở rộng các ranh giới của hiệu quả hoạt động. Và họ luôn phải sàng lọc chuỗi cung ứng của mình để có thể luôn đi trước một bước trong cạnh tranh.
Họ biết rằng lợi thế cạnh tranh ngày hôm nay sẽ là hàng rào cản bước đối thủ vào ngày mai. Vậy, chuỗi cung ứng là gì? Tại sao các tập đoàn trên thế giới lại coi trọng nó như vậy? Ngày nay, để cạnh tranh thành công trên bất kỳ môi trường kinh doanh nào, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào hoạt động của riêng mình mà phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp cũng như khách hàng của nó. Bởi lẽ, khi doanh nghiệp muốn đáp ứng sản phẩm hoặc dịnh vụ cho khách hàng họ buộc phải quan tâm sâu sắc hơn đến dòng dịch chuyển nguyên vật liệu; cách thức thiết kế, đóng gói sản phẩm và dịch vụ của nhà cung cấp; cách thức vận chuyển, bảo quản sản phẩm hoàn thành và những mong đợi thực sự của người tiêu dùng hoặc khách hàng cuối cùng vì thực tế là nhiều doanh nghiệp có thể không biết sản phẩm của họ được sử dụng như thế nào trong việc tạo ra sản phẩm cuối cùng cho khách hàng. Cạnh tranh có tính toàn cầu ngày càng khốc liệt, mức độ kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao hơn đã ép các doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung nhiều vào chuỗi cung ứng của nó.
Thêm vào đó, những tiến bộ liên tục và đổi mới trong công nghệ truyền thông và vận tải và yêu cầu về truy xuất nguồn gốc xuất xứ hàng hóa đã phát triển không ngừng của chuỗi cung ứng và những kỹ thuật để quản lý nó. [12] Trong một chuỗi cung ứng điển hình, doanh nghiệp mua nguyên vật liệu từ một hoặc nhiều nhà cung cấp, được sản xuất hoặc chế biến ở một hay một số nhà máy, cơ sở và được vận chuyển đến nhà kho để lưu trữ ở giai đoạn trung gian, cuối cùng đến nhà bán lẻ và khách hàng. Vì vậy, để giảm thiểu chi phí và cải thiện mức phục vụ, các chiến lược chuỗi cung ứng hiện quả phải xem xét đến sự tương tác ở các cấp độ khác nhau trong chuỗi cung ứng. Chuỗi cung ứng cũng được xem như mạng lưới hậu cần, bao gồm các nhà cung cấp, các trung tâm sản xuất, nhà kho, các trung tâm phân phối; và các cửa hàng bán lẻ, cũng như nguyên vật liệu, tồn kho trong quá trình sản xuất và sản phẩm hoàn thành dịch chuyển giữa các cơ sở.
7 Có rất nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng: “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng” [12] M. Porter (1990): “Chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chuyển biến và phân phối tới tay khách hàng cuối cùng”. [20] Theo Ganesham, Ran and Terry P.Harrison (1995): “Chuỗi cung ứng là mạng lưới các phương tiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩm trung gian, tới sản phẩm cuối cùng và giao sản phẩm đó tới khách hàng thông qua hệ thống phân phối”.[17] Chuỗi cung ứng được xem như một hệ thống xuyên suốt dòng sản phẩm/nguyên liệu, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung cấp của nhà cung cấp xuyên qua các tổ chức, công ty trung gian nhằm đến với khách hàng của khách hàng hoặc một hệ thống mạng lưới hậu cần giữa nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng. Từ các quan điểm của các nhà nhiên cứu nổi tiếng nêu trên, chúng tôi thấy: + Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc phục vụ nhu cầu khách hàng.
+ Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất, nhà cung ứng mà còn liên quan đến vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng. + Hoạt động của các tác nhân trong chuỗi tuy phức tạp và khác nhau nhưng các thành viên luôn thống nhất về mục đích là phục vụ nhu cầu của khách hàng, coi khách hàng là trung tâm của các hoạt động. * Quản trị chuỗi cung ứng: Quản trị chuỗi cung ứng là việc kiểm soát vật tư, thông tin, và tài chính trong quá trình các yếu tố này dịch chuyển từ nhà cung ứng đến người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Quản trị chuỗi cung liên quan đến việc điều phối và hợp nhất các dòng dịch chuyển này bên trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp 8 với nhau.
Mục đích quan trọng nhất của các hệ thống quản trị chuỗi cung ứng nhằm làm giảm số lượng hàng hóa lưu kho. Michael hugos trong cuốn “Khái quát về quản lý chuỗi cung ứng” định nghĩa quản lý chuỗi cung ứng là sự phối hợp của sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhanh và hiệu quả các nhu cầu của thị trường. Không chỉ bao gồm các hoạt động như thu mua, phân phối, bảo trì, quản lý tồn kho mà chuỗi cung ứng có marketing, phát triển sản phẩm mới, tài chính và dịch vụ khách hàng. [21] Cũng có những định nghĩa khác nhau như quản trị chuỗi cung ứng là việc kết hợp một cách hệ thống, chiến lược các chức năng kinh doanh truyền thống và sách lược giữa các chức năng kinh doanh đó trong phạm vi một công ty và giữa các công ty trong chuỗi cung ứng nhằm mục đích cải thiện kết quả lâu dài của từng công ty và toàn bộ chuỗi cung ứng.
Theo Hartmurt và Christoph: “Quản trị chuỗi cung ứng là chiến thuật kết hợp các tổ chức đơn vị dọc chuỗi cung ứng và phối hợp dòng nguyên vật liệu, thông tin và tài chính nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cũng như tăng cường tính cạnh tranh của chuỗi cung ứng”.[18] Theo Ganesham, Ran and Terry P.Harrison, quản trị chuỗi cung ứng là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đó đến sản phẩm hoàn thành cuối cùng, và phân phối sản phẩm đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối. [17] Quản trị chuỗi cung ứng là việc quản lý cung và cầu, xác định nguồn nguyên vật liệu và chi tiết, sản xuất và lắp ráp, kiểm tra kho hàng và tồn kho, tiếp nhận đơn đặt hàng và quản lý đơn đặt hàng, phân phối qua các kênh và phân phối đến khách hàng cuối cùng. Tóm lại, quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp các hoạt động trong chuỗi cung ứng một cách hiệu quả trên toàn hệ thống trong việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. 9 * Chuỗi giá trị: Theo GTZ Esch Born (2007): “Chuỗi giá trị là hệ thống các tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh có liên quan mật thiết với nhau và thực hiện các chức năng trong chuỗi (sản xuất, chế biến, phân phối, bán buôn, bán lẻ) cho 1 sản phẩm cụ thể.
Các đơn vị này cùng có trách nhiệm với nhau bở một loạt các hoạt động kinh doanh. Trong đó, sản phẩm được chuyển từ nhà sản xuất ban đầu tới người tiêu dùng cuối cùng”. [16] Chuỗi giá trị giản đơn chỉ bao gồm các hoạt động chính trong các khâu cơ bản từ khi bắt đầu đến kết thúc 1 sản phẩm. Chuỗi giá trị giản đơn có dạng như sau: - Cung ứng đầu Thiết kế và vào phát triển Phân Tiêu - Sản xuất; sản phẩm phối thụ - Đóng gói; - Vận chuyển.
Thiết Sản Tiêu dùng và tái chế kế xuất Marketing Sơ đồ 1.1: Sự liên kết tác nhân trong chuỗi giá trị giản đơn (Nguồn: Giáo trình Quản trị chuỗi cung ứng) [9] - Chuỗi giá trị mở rộng: Theo Michael Porter (1985), chuỗi giá trị mở rộng bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động bổ trợ tạo nên lợi thế cạnh tranh. Các hoạt động chính là các hoạt động hướng tới chuyển đổi về mặt vật lý của sản phẩm và quản lý sản phẩm từ khâu sản xuất đến kết thúc để cung cấp cho khách hàng. Các hoạt động bổ trợ thường là xây dựng cơ sở vật chất, bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát triển công nghệ., thu mua và tái chế sản phẩm.