Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG THỰC CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò chứng thực của UBND phường 1.1 Khái niệm chứng thực 1. Khái niệm chung về chứng thực Dưới góc độ ngôn ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb Đà Nẵng năm 1997 có một số định nghĩa có liên quan đến chứng thực, sao: “Sao chép lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng bản gốc (thường nói về giấy tờ hành chính). Sao đúng nguyên văn một tài liệu.
Sao y bản chính. Còn về xác nhận được giải thích : “Xác nhận thừa nhận đúng sự thật chữ kí, xác nhận lời khai” [59, tr 1101]. Về chứng thực được định nghĩa “Nhận cho để làm bằng là đúng sự thật. Chứng thực lời khai.
Xác nhận là đúng. Thực tiễn đã chứng thực điều đó”. Từ góc độ pháp lý, khái niệm “chứng thực” được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau theo từng thời kỳ. Cụ thể“sau khi cách mạng tháng 8 thành công Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ sử dụng thuật ngữ “thị thực”: Các Ủy ban có quyền thị thực tất cả các giấy má trong địa phương mình, bất kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về quốc tịch nào.
Nghị định số 31/1996/NĐ-CP ngày 18/05/1996 về tổ chức và hoạt động công chứng giao cho Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh chứng thực các việc do pháp luật quy định và chứng thực bản sao giấy tờ từ bản chính. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng thực việc từ chối nhận di sản, chứng thực di chúc và các việc khác do pháp luật quy định, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp bản chính giấy tờ như giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, văn bằng chứng chỉ và các giấy tờ khác có quyền cấp bản sao các giấy tờ đó cho đương sự.”Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực là 8 văn bản đầu tiên đưa ra khái niệm “chứng thực” là gì. “Chứng thực là việc Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, phường, xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của Nghị định này”.“Thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về cải cách hành chính và cải cách tư pháp ngày 18/05/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký đã đưa ra khái niệm về chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký. Cấp bản sao từ sổ gốc là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao.
Bản sao từ sổ gốc phải có nội dung đúng với nội dung ghi trong sổ gốc, Chứng thực bản sao từ bản chính là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính; Chứng thực chữ ký là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 5 của Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người đã yêu cầu chứng thực.” Hiện nay, hoạt động chứng thực được điều chỉnh bởi Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015. Theo đó,“khái niệm chứng thực được giải thích bằng những từ ngữ dưới đây: 1. “Cấp bản sao từ sổ gốc” là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao. Bản sao từ sổ gốc có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.
“Chứng thực bản sao từ bản chính” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính. "Chứng thực chữ ký" là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực. “Chứng thực hợp đồng, giao dịch” là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành 9 vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.”Như vậy, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP không đưa ra khái niệm “chứng thực” cụ thể mà chỉ đưa ra các giải thích cho các hoạt động chứng thực. Trên cơ sở cách giải thích trên có thể hiểu khái niệm chứng thực như sau“Chứng thực là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật xác nhận tính chính xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản được chứng thực so với bản chính và sổ gốc; xác nhận tính chính xác, tính có thực chữ ký của cá nhân; xác nhận tính chính xác, có thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch, năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.
Khái niệm chứng thực của Ủy ban nhân dân phường Điều 114 Hiến pháp năm 2013 quy định“Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.”Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình, Ủy ban nhân dân còn thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ công, trong đó bao gồm cả việc chứng thực theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức. Từ nhận thức trên ta có thể đưa ra khái niệm chứng thực của Ủy ban nhân dân phường như sau“Chứng thực của Ủy ban nhân dân phường là hoạt động mang tính hành chính nhà nước, do ủy ban nhân dân phường thực hiện việc cấp bản sao từ sổ gốc; chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận; chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản (trừ việc chứng thực chữ ký là người dịch) là chữ ký của người yêu cầu chứng thực; xác nhận thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, 10 chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch là có thật tại thời điểm giao kết. Đặc điểm của chứng thực: Từ khái niệm về chứng thực nêu trên, có thể rút ra các đặc điểm của chứng thực như sau: Thứ nhất,“hoạt động chứng thực mang tính chất hành chính do cơ quan nhà nước, tổ chức được Nhà nước trao quyền thực hiện. Theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì hoạt động chứng thực phải do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện là Phòng Tư pháp quận, UBND phường, các cơ quan đại diện của Việt Nam, các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.”Ngoài các cơ quan này, không có các cơ quan khác được phép thực hiện việc chứng thực.
Thứ hai,“hoạt động chứng thực nhằm xác nhận giá trị pháp lý của văn bản được chứng thực. Bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch. Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch; Chữ ký được chứng thực theo quy định của pháp luật có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản; Hợp đồng, giao dịch được chứng thực theo quy định của pháp luật có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch;”năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Thứ ba,“cơ quan Nhà nước, tổ chức có thẩm quyền chứng thực phải chịu trách nhiệm bảo đảm trung thực, chính xác, khách quan khi thực hiện chứng thực.
Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực phải thực hiện thủ tục chứng thực văn bản, giấy tờ theo đúng trình tự quy định của pháp luật, nếu có sai phạm khi chứng thực sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, tùy theo 11 mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật,”bồi thường theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Chứng thực của UBND phường là“hoạt động chứng thực được thực hiện bởi UBND phường – cơ quan hành chính tại địa phương theo thẩm quyền được pháp luật quy định.”Do đó, chứng thực của UBND phường mang đầy đủ đặc điểm của hoạt động chứng thực nói chung nêu trên. Vai trò chứng thực của UBND phường 1. Bảo đảm cho cá nhân, tổ chức thực hiện các quyền được pháp luật quy định.
Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam ghi nhận những quyền cơ bản của công dân, đó là“quyền có nơi ở hợp pháp; quyền tự do đi lại và cư trú; quyền tham gia quản lý nhà nước; quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp; quyền thừa kế; quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; quyền làm việc; quyền kết hôn, ly hôn; quyền học tập, quyền được nghiên cứu khoa học.”Tuy nhiên,“để thực hiện được những quyền này, con người cần thực hiện các thủ tục nhất định. Pháp luật chứng thực chính là phương tiện để con người thực hiện các quyền này. Chứng thực của UBND phường bảo đảm cho cá nhân, tổ chức thực hiện các quyền được pháp luật quy định,”thể hiện: - Hoạt động“chứng thực của UBND phường cung cấp dịch vụ trực tiếp để các chủ thể thực hiện quyền được pháp luật quy định thông qua việc chứng thực hợp đồng, giao dịch. Việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã khiến cho hợp đồng, giao dịch đó trở nên có hiệu lực pháp luật được pháp luật thừa nhận.
Vì vậy, sau khi hợp đồng, giao dịch được chứng thực hợp lệ, các chủ thể phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng, giao dịch đó.