Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƢỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 1. CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn nhƣ: giai đoạn khởi tố; giai đoạn điều tra và truy tố; xét xử… Mỗi giai đoạn có nhiệm vụ và định hƣớng khác nhau nhƣng đều hƣớng tới mục đích giải quyết vụ án khách quan, toàn diện đúng quy định của pháp luật và do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Để giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề mang tính tất yếu và đƣợc pháp luật tố tụng hình sự quy định là: các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành chứng minh để làm rõ, khôi phục lại toàn bộ sự thật khách quan của vụ án và làm sáng tỏ những vấn đề khác có liên quan đến vụ án. Từ điển Tiếng Việt có giải thích: “….
Chứng minh là việc dùng suy luận logic vạch rõ điều gì là đúng”[43]. Hoạt động chứng minh đƣợc sử dụng trong rất nhiều các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự. Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự chính là quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung của vụ án và các tình tiết có liên quan đến vụ án. Mục đích của hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự là để phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.
Song, việc giải quyết vụ án hình sự chỉ phát sinh sau khi có tội phạm xảy ra, do đó, quá trình chứng minh khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án chính là quá trình nhận thức chân lý khách quan về vụ án. Cơ sở lý luận của hoạt động nhận thức này chính là lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin. Lý luận nhận thức Mác - Lênin khẳng định rằng: nhận thức là sự phản ánh biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tƣợng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm đƣợc bản chất quy luật của sự việc và hiện tƣợng. Trong thế giới khách quan, không có cái gì là con ngƣời không thể nhận thức đƣợc, mà chỉ có những cái con ngƣời chƣa nhận thức đƣợc nhƣng dần dần cũng sẽ nhận thức đƣợc.
Theo nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì: thế giới thống nhất ở tính vật chất, thế giới vật chất luôn vận động và phát triển, mọi sự vật hiện tƣợng trong thế giới luôn có mối liên hệ, tác động với nhau, ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau. Phép biện chứng cũng chỉ ra rằng phản ánh là thuộc tính của chung của mọi đối tƣợng vật chất, V.I-Lênin viết: “Hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống như cảm giác, đặc tính phản ánh” [12, tr. Bởi vậy về nguyên tắc, hoạt động của con ngƣời nói chung và hành vi phạm tội nói riêng bao giờ cũng để lại dấu vết trong thế giới khách quan. Những dấu vết của hành vi phạm tội có thể đƣợc thể hiện dƣới dạng vật chất hoặc đƣợc phản ánh ghi nhận trong trí nhớ của con ngƣời.
Vì vậy, thông qua việc thu thập những dấu vết này một cách có hệ thống trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ nhận thức đƣợc đúng đắn bản chất của vụ án, dựng lại đƣợc toàn bộ diễn biến của sự việc phạm tội. Quá trình thu thập những dấu vết của tội phạm và những thông tin có liên quan đến vụ án (thu thập chứng cứ) để nhận thức khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án - chính là quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự. Nhƣng quá trình nhận thức sự thật khách quan của vụ án hình sự không phải là quá trình nhận thức trực tiếp mà là quá trình nhận thức gián tiếp về vụ án. Bởi vì, khi đó sự việc phạm tội không phải là đang xảy ra một cách hiện hữu để chúng ta nhận thức, mà trên thực tế sự việc phạm tội đã xảy ra, vì vậy các cơ quan tiến hành tố tụng phải nhận thức khôi phục lại nó thông qua việc phát hiện thu thập và đánh giá những dấu vết mà nó để lại trong hiện thực khách quan.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự do những chủ thể nhất định tiến hành bằng việc phát hiện, thu thập chứng cứ từ các nguồn khác nhau và sử dụng chứng cứ từ những nguồn này làm phƣơng tiện chứng minh làm rõ các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án. ĐỐI TƢỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 1. Khái niệm “Ngƣời chƣa thành niên”, “ngƣời chƣa thành niên phạm tội”, “bị can, bị cáo là ngƣời chƣa thành niên” 1. Khái niệm Người chưa thành niên Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm ngƣời chƣa thành niên đƣợc định nghĩa nhƣ sau: "Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân"[43].
Theo quy định tại Điều 1 Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em năm 1990 thì "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn". Bên cạnh Công ƣớc về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với ngƣời chƣa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.1992 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm "người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" nhƣ là một sự kế thừa của Công ƣớc về Quyền trẻ em. Luật pháp Việt Nam cũng nhƣ hầu hết luật pháp của các nƣớc trên thế giới đều coi ngƣời chƣa thành niên là đối tƣợng cần đƣợc đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm ngƣời chƣa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau.
Thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những kinh nghiệm đƣợc thừa nhận trong quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng nhƣ tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế, các nhà làm luật Việt Nam đã đƣa ra khái niệm về ngƣời chƣa thành niên, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật, nhƣ sau: Điều 18 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định: "Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên"; Bộ luật lao động Việt Nam quy định: "Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi". Nhƣ vậy, có thể thống nhất một quan điểm là người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.
Quan niệm này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em ngày 20.1990 mà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Người chưa thành niên phạm tội Pháp luật các nƣớc khi quy định về ngƣời chƣa thành niên phạm tôi đều chú ý tới tuổi của họ. Tại Mỹ, độ tuổi của trách nhiệm hình sự đƣợc thành lập theo quy định của pháp luật nhà nƣớc. Chỉ có 13 tiểu bang đã thiết lập độ tuổi tối thiểu, khoảng từ 6 đến 12 tuổi.
Hầu hết các bang dựa vào pháp luật chung, nắm giữ từ 7 tuổi đến 14 tuổi, trẻ em không có thể đƣợc coi là chịu trách nhiệm nhƣng có thể đƣợc tổ chức chịu trách nhiệm. Tại Nhật Bản, ngƣời phạm tội dƣới 20 tuổi đƣợc xét xử tại một tòa án gia đình, chứ không phải là trong hệ thống tòa án hình sự. Trong tất cả các nƣớc Bắc Âu, tuổi trách nhiệm hình sự là 15, và thanh thiếu niên dƣới 18 tuổi có thể đến một hệ thống tƣ pháp là hƣớng chủ yếu đối với các dịch vụ xã hội, giam giữ nhƣ là phƣơng sách cuối cùng. Tính đến tháng 4 năm 1997, chỉ có 15 ngƣời chƣa thành niên đang chấp hành hình phạt tù ở Thụy Điển.
Ở Trung Quốc, trẻ em từ 14 đến 18 tuổi đƣợc xử lý bằng hệ thống tƣ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp vị thành niên và có thể bị kết án tù chung thân đối với tội đặc biệt nghiêm trọng. Trong hầu hết các nƣớc châu Mỹ La tinh, các cải cách của pháp luật về công lý trẻ vị thành niên đang đƣợc tiến hành. Kết quả là, trách nhiệm hình sự ngƣời lớn tuổi đã đƣợc nâng lên đến 18 ở Brazil, Colombia và Peru. Trẻ em từ 12 đến 18 tuổi phải chịu trách nhiệm dƣới một hệ thống công lý vị thành niên.
Tại Việt Nam, theo Điều 1 Luật bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em của Việt Nam năm 2004 thì "trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi". Có thể nói, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của ngƣời thành niên đƣợc xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con ngƣời; trình độ phát triển về nhận thức xã hội; điều kiện kinh tế-xã hội của từng quốc gia trong từng thời kỳ. Song, sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia cũng phản ánh một sự thiếu đồng thuận trong cộng đồng quốc tế về độ tuổi chiụ trách nhiệm hình sự.1: Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một số quốc gia trên thế giới Mexico 6-12 Bangladesh 7 Ấn Độ 7 Myanmar 7 Nigeria 7 Pakistan 7 Nam Phi 7 Sudan 7 Tanzania 7 Thái Lan 7 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hoa Kỳ 7 Indonesia 8 Kenya 8 Vƣơng quốc Anh (Scotland) 8 Ethiopia 9 Iran 9 Nepal 10 Vƣơng quốc Anh (Anh) 10 Vƣơng quốc Anh (xứ Wales) 10 Ukraine 10 Hàn Quốc, Rep. 12 Morocco 12 Uganda 12 Algeria 13 Pháp 13 Ba Lan 13 Uzbekistan 13 Trung Quốc 14 Đức 14 Ý 14 Nhật Bản 14 Liên bang Nga 14 Việt Nam 14 Ai Cập 15 Argentina 16 Brazil 18 Colombia 18 Peru 18 Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.