Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG CỨ VÀ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY 1. Chứng cứ trong vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy 1.1 Những vấn đề chung về chứng cứ Khái niệm chứng cứ là một trong những nội dung quan trọng của lý luận về chứng cứ. Nó là cơ sở để giải quyết một loạt vấn đề liên quan như thuộc tính của chứng cứ, các thủ tục thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ… góp phần quyết định vào việc giải quyết đúng đắn, khách quan từng vụ án hình sự; định nghĩa chính xác khái niệm chứng cứ còn ảnh hưởng không nhỏ tới việc xác định địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của công dân. Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự là yêu cầu khách quan, tồn tại không phụ thuộc vào ý thức của những người THTT.
Cho nên, không thể nói các vấn đề phải chứng minh là chính xác hay không chính xác, mà chỉ có thể nói chứng cứ phản ánh về chúng có chính xác hay không. Khái niệm và chứng cứ trong TTHS Việt Nam được quy định tại Điều 86 và nguồn của chứng cứ tại Điều 87 của BLTTHS năm 2015. Điều 86 của BLTTHS năm 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Trong BLTTHS, mọi sự kiện, tình tiết của vụ án phải được các cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT xem xét và giải quyết trên cơ sở chứng cứ, phải dựa vào chứng cứ để chứng minh những vấn đề trong vụ án hình sự.
Chứng cứ là những thông tin, tài liệu, tình tiết được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo quy định của BLTTHS nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Điều 87 BLTTHS thì nguồn chứng cứ: 10 “1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn: a) Vật chứng; b) Lời khai, lời trình bày; c) Dữ liệu điện tử; d) Kết luận giám định, định giá tài sản; đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; g) Các tài liệu, đồ vật khác. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự”.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của khái niệm về chứng cứ như đã trình bày trên và quá trình tiếp thu kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới về vấn đề này tại Điều 86 BLTTHS Việt Nam năm 2015 đã đưa ra khái niệm về chứng cứ một cách đầy đủ chính xác như sau: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Chứng cứ được xác định bằng: Vật chứng; Lời khai, lời trình bày; Dữ liệu điện tử; Kết luận giám định, định giá tài sản; Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác; Các tài liệu, đồ vật khác. Tóm lại, khái niệm chứng cứ trong BLTTHS năm 2015 đã bao hàm được mối quan hệ giữa hình thức tố tụng và bản chất khách quan của chứng cứ, chủ thể và đối tượng chứng minh cũng như thể hiện đầy đủ các yếu tố nội hàm đặc trưng của chứng cứ. Nghiên cứu quy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự cho thấy Điều 85 BLTTHS năm 2015 quy định như sau: Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh: - Hành vi phạm tội; thời gian; địa điểm và những tình tiết khác; 11 - Chủ thể, mục đích, động cơ thực hiện tội phạm; yếu tố lỗi; năng lực trách nhiệm hình sự; - Đặc điểm về nhân thân; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; - Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; - Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; - Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Các thuộc tính cơ bản của chứng cứ: Một là, tính khách quan của chứng cứ được hiểu là tất cả các thông tin hay những gì có thật tồn tại khách quan trong vụ án hình sự. Theo Điều 86 của BLTTHS năm 2015, “Chứng cứ là những gì có thật…”. Điều đó nghĩa là trước hết chứng cứ là những thông tin, tài liệu, sự việc, dấu vết… khách quan, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Trong thực tiễn khi THTT, việc xác định đúng tính khách quan của chứng cứ có ý nghĩa rất quan trọng trong chứng minh tội phạm.
Do vậy, tuyệt đối không được áp dụng các thông tin bị xuyên tạc, bị làm giả để chứng minh sẽ dẫn đến lệch lạc, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án hình sự. Thuộc tính khách quan là thuộc tính tiên quyết, mang nội dung của chứng cứ, là thuộc tính bắt buộc đối với mọi chứng cứ. Hai là, tính liên quan của chứng cứ thể hiện nó phải có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Những sự vật, hiện tượng, dấu vết, tài liệu… có thật nhưng nếu không liên quan đến tội phạm, người phạm tội thì không có ý nghĩa gì, cũng không phải là đối tượng mà các cơ quan THTT phải tìm cách phát hiện, thu thập vì không có ý nghĩa với quá trình THTT.
Chứng cứ là những thông tin, tài liệu, số liệu, sự việc, hiện tượng tồn tại khách quan trong vụ án hình sự mà các cơ quan THTT dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. 12 Trong quá trình THTT, thông thường các cơ quan THTT thu thập nhiều thông tin, tài liệu. Tuy nhiên, không phải thông tin, tài liệu thu thập được đều có thể trở thành chứng cứ mà chỉ những thông tin, tài liệu đó phải liên quan đến đối tượng chứng minh của vụ án hình sự mới có thể trở thành chứng cứ. Ba là, tính hợp pháp của chứng cứ được hiểu là những gì có thật (tính khách quan) liên quan đến những vấn đề phải chứng minh của vụ án, được phản ánh lại hoặc ghi lại từ những nguồn của chứng cứ và được thu thập bằng những biện pháp thu thập chứng cứ do BLTTHS quy định.
Cần phân tích và nắm rõ quá trìnhthu thập chứng cứ theo trích dẫn tại Điều 88 của BLTTHS. Tóm lại, nội dung của chứng cứ thể hiện qua ba thuộc tính đã được trình bày ở trên. Những thuộc tính này có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau tạo nên một thể thống nhất trong chứng cứ và những thuộc tính bắt buộc đối với mọi chứng cứ. Hai thuộc tính đầu mang tính nội dung, thuộc tính sau cùng mang tính hình thức.
Những vấn đề phải chứng minh Trong giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền THTT có nhiệm vụ xác định sự thật khách quan của vụ án và các vấn đề khác có liên quan; đó là các vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, được xác định bởi bốn yếu tố cấu thành tội phạm. Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự bao gồm: - Hành vi phạm tội? Thời gian? Địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội? Đây là những yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm, làm rõ những vấn đề này sẽ xác định được hành vi phạm tội có xảy ra trên thực tế hay không, làm rõ về thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện phạm tội… - Sau khi chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra thì cơ quan có thẩm quyền THTT phải tiếp tục làm rõ: Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý (trực tiếp hay gián tiếp) hay vô ý (do quá tự tin hay do cẩu thả); có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội. Đây 13 là những yếu tố về chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm, có ý nghĩa xác định người thực hiện hành vi có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. - Sau khi xác định được người đã thực hiện hành vi phạm tội và họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của họ gây ra thì cơ quan có thẩm quyển THTT khởi tố và xác định những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Đây là những vấn đề cần phải chứng minh và có ý nghĩa đánh giá sâu về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, quyết định khung hình phạt, mức hình phạt và giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (nếu có). Việc làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội là một nội dung mới thuộc các đề phải chứng minh, là yêu cầu bắt buộc trong giải quyết vụ án hình sự, một nội dung cần đánh giá trong bản kết luận điều tra, bản cáo trạng. Việc xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội giúp các cơ quan có thẩm quyền THTT đưa ra hướng giải quyết để loại trừ nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm. Mặt khác, nó cũng đặt ra yêu cầu cho Hội đồng xét xử khi tiến hành thẩm vấn và điều hành việc tranh tụng tại phiên tòa cần tạo điều kiện cho các bên buộc tội và bên gỡ tội làm rõ vấn đề này, chứ không chỉ hạn chế trong việc thẩm tra, đánh giá chứng cứ hay viện dẫn “giới hạn của việc xét xử” để hạn chế quyền của các bên khi tham gia tố tụng.