Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM XÂY DỰNG RÚT ĐÚC TỪ LỊCH SỬ, CÁC MÔ HÌNH CỦA CÁC QUỐC GIA QUY ĐỊNH VỀ CHỨNG CỨ 1. Lý luận về chứng cứ Chứng cứ là một trong những chế định quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự (TTHS). Chế định này vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn cao. Để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án phải xác định sự việc phạm tội và người thực hiện hành vi phạm tội.
Quá trình thực hiện hành vi phạm tội là những diễn biến, sự việc do tội phạm gây ra đã xảy ra trong quá khứ, muốn hình dung, tái hiện được diễn biến, sự việc đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải dựa vào chứng cứ của vụ án. Xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những gì có thật được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Vì vậy, việc nghiên cứu bản chất của chứng cứ, lý giải về mặt khoa học, cơ sở lí luận và thực tiễn áp dụng chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 có ý nghĩa rất lớn trong quá trình lập pháp tố tụng hình sự cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Khái niệm chứng cứ Trong lịch sử hình thành phát triển của nhân loại, hoạt động tố tụng hình sự có nhiều bước thăng trầm, bắt đầu từ nhận thức, đánh giá sơ khai của con người về sự vật, hiện tượng xảy ra trong đời sống hàng ngày đến hình thành quy tắc đặc trưng có tính kế thừa, học hỏi, và từng bước được hoàn thiện.
Cùng với các điều kiện lịch sử nói chung, cũng như nhân tố đặc thù của các quốc gia nói riêng, các hình thức tố tụng hình sự đều có sự phân chia khác nhau, nhưng để tiến hành tố tụng nhằm xác định các sự kiện có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, thì phương tiện quan trọng nhất sử dụng trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự của tất cả các hình thức tố 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tụng đó chính là chứng cứ. Vậy chứng cứ là gì? Trước đây đã từng có các quan điểm khác nhau về chứng cứ trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đó là các quan điểm phi Mác xít về vấn đề này như các quan điểm thần học, tôn giáo, quan điểm hình thức, quan điểm nhân chủng học, quan điểm niềm tin nội tâm của Thẩm phán…các quan điểm này phản ánh, đánh giá về chứng cứ có phần chủ quan, phiến diện, máy móc, không phù hợp với các quy luật khách quan. Triết học Mác – Lênin ra đời, dựa trên phương pháp luận biện chứng khoa học đã lý giải một cách đầy đủ bản chất của nhận thức; bác bỏ quan điểm của triết học duy tâm nói chung, thuyết hoài nghi luận và thuyết bất khả tri luận nói riêng, chứng minh được rằng, con người có thể nhận thức được thế giới khách quan và quy luật của nó; trên thế giới không có sự vật, hiện tượng nào là không thể nhận thức được, mà chỉ có sự vật, hiện tượng chưa nhận thức được, nhưng con người sẽ nhận thức được, “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” [10, tr. Từ nhận thức cảm tính (trực quan sinh động), con người thu nhận các thông tin về tội phạm, từ đó có sự kiểm tra, đánh giá thông qua tư duy của mình, kết luận về các tình tiết nói riêng và về tội phạm nói chung.
Học thuyết về nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng là học thuyết về sự phản ánh của thế giới khách quan trong ý thức con người; cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là vật chất có trước và sau mới là ý thức. Ý thức của con người có khả năng phản ánh chính xác hiện thực khách quan, là xuất phát điểm cực kỳ quan trọng cho lý luận về chứng cứ, cho lập pháp TTHS về chứng cứ và áp dụng các quy định của pháp luật về chứng cứ trong thực tiễn. Cũng theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, thì mọi sự vật đều có thuộc tính phản ánh, vì vậy hoạt động của con người, trong đó các hành vi phạm tội đều để lại dấu vết trong thế giới khách quan. Những dấu vết của tội phạm để lại có thể được thể hiện dưới dạng vật chất như: dấu vết tội phạm tồn tại trên công cụ, phương tiện phạm tội như dấu vân tay, máu… hoặc được phản ánh, ghi nhận trong trí nhớ của con người, như bị hại, người làm chứng, bị can, bị cáo.
Trên cơ sở việc thu thập đầy đủ, có hệ thống 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các dấu vết này, con người có thể nhận thức được diễn biến của hành vi phạm tội đã xảy ra. Ngoài ra, điều này còn phản ánh việc thừa nhận sự tồn tại của thế giới vật chất nói chung, những dấu vết mà tội phạm để lại trong thế giới khách quan nói riêng độc lập với ý thức chủ quan của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, đến lượt mình, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chính là chủ thể của nhận thức về các vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự đó, phải tìm ra và làm rõ dấu vết của tội phạm để lại trong thế giới khách quan, qua đó làm sáng tỏ bản chất của vụ án. Tóm lại, lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhận thức thế giới là cơ sở lý luận của chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt nam.
Trong khoa học pháp lí, có nhiều quan niệm về chứng cứ, một số học giả cho rằng “Chứng cứ là tất cả những gì trong thế giới vật chất, thế giới tinh thần mà con người có thể lĩnh hội được”, một số khác thì quan niệm “Chứng cứ là cái để chứng minh sự tồn tại hay không tồn tại của một sự kiện liên quan đến vụ án”, hay “Chứng cứ là những gì chứa đựng sự thật nhằm chứng minh một luận điểm nào đó”. Các quan điểm trên đã phản ánh, làm rõ được phần nào những vấn đề thuộc về bản chất của chứng cứ, tuy nhiên chưa đầy đủ. Quan điểm của TS. Đỗ Văn Đương cho rằng: “Chứng cứ là những thông tin xác thực về những gì có thật liên quan đến hành vi phạm tội, được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà những người và cơ quan tiến hành tố tụng dùng làm căn cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án” [20, tr.
Như vậy có thể thấy rằng, chứng cứ được các tác giả nghiên cứu nhìn nhận ở những góc độ khác nhau và đưa ra những quan điểm khác nhau về chứng cứ, qua đây tác giả xin đưa ra khái niệm về chứng cứ như sau: “Chứng cứ là những sự vật, sự việc tồn tại khách quan, liên quan đến hành vi phạm tội, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Thuộc tính của chứng cứ Từ khái niệm trên, có thể thấy chứng cứ có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyết vụ án hình sự. Là một phạm trù pháp lý khá phức tạp, tuy vậy đối với các sự vật, sự việc đã xảy ra, thì con người có khả năng nhận thức, đánh giá được thông qua các thuộc tính của nó, các thuộc tính của chứng cứ bao gồm: Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Tính khách quan của chứng cứ: Tính khách quan là thuộc tính cơ bản thứ nhất của chứng cứ.
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ hiện thực khách quan là cơ sở của nhận thức. Nếu dựa vào những gì mà chưa xác định được tính chân thực khách quan để ra các quyết định giải quyết vụ án đều có thể đem lại sai lầm. Theo Đại từ điển tiếng việt, khách quan là: “Cái tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý thức của con người” [26, tr. Chứng cứ là những gì có thật, tức là phải tồn tại trong thực tế khách quan điều đó có nghĩa rằng chứng cứ là những thông tin, tài liệu, đồ vật, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người và phải phù hợp với các tình tiết của vụ án đang chứng minh.
Tính khách quan chứng cứ được gọi là tính xác thực của chứng cứ, tính khách quan của chứng cứ được thể hiện đầu tiên đó là những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự cũng như các tình tiết khác liên quan phải tồn tại một cách khách quan, độc lập với ý thức của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Muốn làm được như vậy, đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự phải xuất phát từ thực tế để có nhận thức đúng đắn, toàn diện vấn đề; không được lấy ý chí chủ quan để áp đặt, phải tôn trọng sự thật, tránh thái độ chủ quan nóng vội, phiến diện, định kiến, không trung thực. Mặt khác, khi nghiên cứu thuộc tính này chúng ta cũng cần lưu ý nếu những thông tin, tài liệu, đồ vật dù tồn tại trên thực tế nhưng bị xuyên tạc, bóp méo hay bị giả tạo theo ý chí chủ quan thì không còn mang tính khách quan, vì vậy, nó không phải chứng cứ. Tóm lại, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, việc xác định đúng đắn tính khách quan của chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong chứng minh tội phạm.
Việc sử dụng thông tin, tài liệu bị bóp méo, giả tạo sẽ làm cho việc xác định sự thật khách quan của vụ án không chính xác. Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm tính khách quan của chứng cứ như sau: Tính khách quan của chứng cứ chỉ sự tồn tại độc lập của nó trong thực tế 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của những người tiến hành tố tụng.