Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về chống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Ngọc Dung, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Nguyên Khánh, chuyên ngành Luật kinh tế (mã số: 9.07) tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2021.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bán hàng đa cấp (BHĐC) xuất hiện và phát triển mạnh mẽ trên thế giới từ giữa thế kỷ 20 và du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 20. Do lịch sử hoạt động tại thị trường nội địa còn non trẻ, phương thức phân phối này đã bị một số chủ thể lợi dụng để thực hiện hành vi lừa đảo, trục lợi, biến tướng thành BHĐC bất chính, diễn ra trên diện rộng và tập trung tại các vùng nông thôn. Sự xuất hiện của các hành vi bất chính này làm sai lệch bản chất của mô hình kinh doanh, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế - xã hội, tạo bức xúc trong dư luận và dẫn đến nhiều ý kiến chất vấn tại Quốc hội, thậm chí có quan điểm đề xuất cấm hoàn toàn hoạt động BHĐC.

Trước yêu cầu thực tiễn, khung pháp lý quản lý BHĐC tại Việt Nam đã từng bước hình thành và điều chỉnh qua các giai đoạn: từ Luật Cạnh tranh năm 2004, Nghị định số 110/2005/NĐ-CP, Nghị định số 42/2014/NĐ-CP cho đến Nghị định số 40/2018/NĐ-CP, Nghị định số 141/2018/NĐ-CP và việc bổ sung tội danh liên quan đến kinh doanh đa cấp trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Mặc dù vậy, thực tiễn vẫn bộc lộ nhiều kẽ hở pháp lý khiến các doanh nghiệp dễ lách luật để trục lợi dưới các hình thức biến tướng như huy động vốn, tín dụng đen, kinh doanh bất động sản. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có công trình khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về chế định pháp luật chống BHĐC bất chính ở cả hai phương diện là kiểm soát điều kiện gia nhập thị trường và hoàn thiện hệ thống chế tài xử lý vi phạm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về BHĐC bất chính và pháp luật về chống BHĐC bất chính; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn thực thi pháp luật chống BHĐC bất chính; từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về chống BHĐC bất chính ở Việt Nam hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về BHĐC bất chính, pháp luật chống BHĐC bất chính, nhận diện bản chất của hành vi; khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học cho Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi các quy định về chống BHĐC bất chính đối với doanh nghiệp và người tham gia; làm rõ thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước; chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
  3. Xác định sự cần thiết và định hướng hoàn thiện pháp luật, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật chống BHĐC bất chính.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Hình thức BHĐC có mang bản chất lừa đảo không? Sự khác biệt của BHĐC với bán hàng truyền thống là gì?
  • Câu hỏi 2: BHĐC bất chính là gì? Sự tác động của hành vi BHĐC bất chính đến môi trường kinh doanh và trật tự công cộng như thế nào? Vai trò của pháp luật trong việc chống BHĐC bất chính ra sao?
  • Câu hỏi 3: Cơ sở pháp lý về chống BHĐC bất chính là gì? Làm thế nào để nhận diện hành vi BHĐC bất chính?
  • Câu hỏi 4: Làm thế nào để kiểm soát và chống hành vi BHĐC bất chính? Hành vi BHĐC bất chính nào cần phải tội phạm hóa? Thực tiễn chống BHĐC bất chính diễn ra hiện nay như thế nào và các biện pháp xử lý vi phạm được áp dụng ra sao?
  • Câu hỏi 5: Định hướng và giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong việc chống hành vi BHĐC bất chính hiện nay?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Giả thuyết 1: Xuất phát từ bản chất phương thức kinh doanh, BHĐC và BHĐC bất chính đang có nhiều quan niệm chưa thống nhất, dẫn tới quan điểm cực đoan đòi cấm hoàn toàn hình thức kinh doanh này.
  • Giả thuyết 2: Hậu quả của hành vi BHĐC bất chính tác động tiêu cực và gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường kinh doanh cũng như trật tự an toàn xã hội.
  • Giả thuyết 3: Quy định pháp luật về chống BHĐC bất chính hiện hành còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa đủ hiệu quả, tạo điều kiện cho doanh nghiệp lách luật.
  • Giả thuyết 4: Thực tế đang xuất hiện sự biến tướng phức tạp của BHĐC sang các lĩnh vực huy động vốn, tín dụng, bất động sản, đòi hỏi sự điều chỉnh pháp lý chặt chẽ hơn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về BHĐC bất chính và pháp luật chống BHĐC bất chính; hệ thống quy định pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật về chống BHĐC bất chính.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào lý luận và quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hành vi BHĐC bất chính. Đối tượng của phương thức BHĐC theo pháp luật Việt Nam giới hạn ở hàng hóa hữu hình. Pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước được nghiên cứu ở mức độ đối chiếu, so sánh làm cơ sở tham khảo. Luận án tiếp cận pháp luật chống BHĐC bất chính như một chế định pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp chân chính, người tham gia và người tiêu dùng.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn hoạt động và xử lý vi phạm của các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh theo phương thức đa cấp tại thị trường Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đối với các quy định pháp luật, khảo cứu từ năm 2004 đến năm 2021; đối với số liệu thực tiễn và xử lý vi phạm, khảo cứu từ năm 2015 đến năm 2020/2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo từng nhóm nội dung:

  1. Nghiên cứu về lý luận bán hàng đa cấp và bán hàng đa cấp bất chính:

    • Ở cấp độ luận án tiến sĩ trong nước: Lê Anh Tuấn (2008) với luận án "Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam" tiếp cận BHĐC dưới góc độ Luật Cạnh tranh năm 2004 (Điều 48) và khảo cứu kinh nghiệm Hoa Kỳ, Singapore, Canada; Lê Bí Bo (2016) với luận án "Quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp ở Việt Nam hiện nay" tiếp cận dưới góc độ quản trị hành chính nhà nước, phân tích sự hình thành mô hình tại Việt Nam dựa trên Nghị định số 42/2014/NĐ-CP.
    • Ở cấp độ luận văn thạc sĩ: Ninh Thị Minh Phương (2012) phân tích các dấu hiệu pháp lý tại Điều 48 Luật Cạnh tranh 2004; Trương Văn Bảo (2012) nghiên cứu nhu cầu hoàn thiện pháp luật chống BHĐC bất chính; Trần Thị Thu (2012) tiếp cận dưới góc độ kiểm soát phân phối trực tiếp; Bùi Thị Ánh Tuyết (2020) với đề tài "Kiểm soát hành vi bán hàng đa cấp bất chính theo pháp luật Việt Nam" đã làm rõ dấu hiệu chiếm dụng vốn, chiến lược dồn hàng và phân loại mô hình Ponzi, mô hình kim tự tháp.
    • Giáo trình đào tạo luật học: Giáo trình Luật Cạnh tranh của Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Trường Đại học Kinh tế - Luật TP.HCM (2010), Trường Đại học Luật TP.HCM và Trường Đại học Ngoại thương (2003) phân tích bản chất pháp lý của BHĐC và xếp BHĐC bất chính vào nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
    • Bài viết học thuật chuyên ngành: Đặng Long (2006) điểm lại sự ra đời của Nghị định 110/2005/NĐ-CP; Đoàn Văn Bình và Đoàn Trung Kiên (2007) phân tích phương thức phân phối trực tiếp; TS. Nguyễn Minh Phong (2010) nhận diện 5 thủ thuật biến tướng trong kinh doanh đa cấp; Nguyễn Văn Vinh (2016) phân tích các vi phạm kinh doanh đa cấp; Nguyễn Ngọc Sơn phân tích tính không lành mạnh của hành vi; Nguyễn Phương Liên (2017) khảo cứu quy định chống mô hình kim tự tháp tại Hoa Kỳ và Canada; Luật sư Phạm Tuấn Anh và Lê Văn Sua phân tích bản chất chiếm dụng vốn và gian dối thông tin.
    • Nghiên cứu quốc tế: Richard Peo (2003) giải thích khái niệm kinh doanh theo mạng; Don và Nancy Failla (2005) phân tích cơ chế giao tiếp trực tiếp; James A. Muncy (2004) thảo luận về tính hợp pháp và đạo đức trong phân phối đa cấp; Abdul Assis Koroth và A. Sarada (2012) phân tích quan hệ mạng lưới và chi phí trung gian; Bogdan Gregor và Aron-Axel Wadlewski (2013) nghiên cứu mô hình kinh doanh đa cấp tại Ba Lan; William W. Keep và Peter J. Vander Nat (2014) khảo sát mô hình đa cấp và mô hình kim tự tháp tại Hoa Kỳ; Ranelli Williams (2018) nghiên cứu chiến lược tuyến dưới và phân biệt hoa hồng tuyển dụng với doanh số bán hàng; Susan Ward (2017), Radha Rani và Narender Kumar Maharshi, Ciongradi (2017), Dai, Teo và Wang (2017) phân tích cơ chế trả thưởng và tiêu chí nhận diện mô hình hình tháp lừa đảo.
  2. Nghiên cứu về pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính:

    • Tác giả ghi nhận số lượng công trình nghiên cứu trực diện về lý luận pháp luật chống BHĐC bất chính còn rất hạn chế, tiêu biểu chỉ có luận văn của Ninh Thị Minh Phương (2012) và Bùi Thị Ánh Tuyết (2020), song các công trình này chủ yếu dừng lại ở việc xem xét hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc cơ chế kiểm soát chung, chưa bao quát được toàn diện hệ thống quy định sau khi có Nghị định 40/2018/NĐ-CP và Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án xác định vị trí nghiên cứu là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận toàn diện chế định pháp luật chống BHĐC bất chính tại Việt Nam dưới góc độ luật kinh tế. Luận án giải quyết khoảng trống về việc xây dựng cơ sở lý luận chuyên biệt cho pháp luật chống BHĐC bất chính; phân tích cấu trúc quy định kiểm soát điều kiện kinh doanh kết hợp với hệ thống chế tài hành chính, dân sự, hình sự; đồng thời đánh giá thực tiễn thi hành từ năm 2015 đến năm 2020 nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc sửa đổi, bổ sung chính sách quản lý nhà nước.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa các học thuyết kinh tế và lý thuyết pháp lý:

  • Học thuyết giá trị thặng dư của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Sử dụng để luận giải cơ chế hình thành chi phí phân phối và tiền công lao động trong phương thức BHĐC. BHĐC chuyển hóa chi phí trung gian (quảng cáo, kho bãi, đại lý) thành hoa hồng chi trả cho người phân phối độc lập dựa trên hiệu suất tiêu thụ thực tế.
  • Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh: Tiếp cận quyền tự do kinh doanh như một quyền hiến định cơ bản của công dân (được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013), Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thực thi và chỉ hạn chế quyền khi cần bảo vệ trật tự công cộng, quyền lợi người tiêu dùng.
  • Lý thuyết Nhà nước pháp quyền và Nhà nước kiến tạo phát triển: Luận giải vai trò quản lý của Nhà nước trong việc tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, không can thiệp hành chính cực đoan làm triệt tiêu mô hình kinh doanh hợp pháp mà tập trung kiểm soát rủi ro pháp lý.
  • Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp của Paul Samuelson: Khẳng định sự cần thiết phải kết hợp giữa cơ chế thị trường tự do với sự điều tiết, can thiệp hợp lý của Nhà nước để khắc phục các khuyết tật thị trường do hành vi gian dối, chiếm dụng vốn gây ra.
  • Chủ thuyết bảo vệ thương mại công bằng và bảo vệ người tiêu dùng: Làm nền tảng xuyên suốt nhằm thiết lập sự cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp kinh doanh đa cấp chân chính, người tham gia mạng lưới và người tiêu dùng cuối cùng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án là công trình nghiên cứu định tính trong khoa học pháp lý, vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật: Sử dụng xuyên suốt tại các Chương 1, Chương 2 và Chương 3 để giải mã các quy phạm pháp luật về cạnh tranh, thương mại, dân sự, hình sự điều chỉnh hoạt động BHĐC.
  • Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa: Dùng để khái quát hóa các quan điểm lý luận trong phần tổng quan, phân loại các dấu hiệu hành vi bất chính và xây dựng hệ thống giải pháp ở Chương 3.
  • Phương pháp logic pháp lý: Sử dụng tại Chương 2 để kiểm tra tính thống nhất, đồng bộ nội tại giữa các văn bản quy phạm pháp luật, chỉ ra sự chồng chéo hoặc khoảng trống trong phân định thẩm quyền quản lý.
  • Phương pháp luật học so sánh: Phân tích, đối chiếu mô hình điều chỉnh pháp luật chống BHĐC bất chính của các quốc gia: Hoa Kỳ (quy định của Ủy ban Thương mại Liên bang US-FTC), Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore để rút ra kinh nghiệm lập pháp.
  • Phương pháp dự báo: Đánh giá xu hướng phát triển và biến tướng của phương thức đa cấp để kiến nghị chính sách dài hạn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Nguồn văn bản pháp luật: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Cạnh tranh 2004 và 2018; Bộ luật Dân sự 2015; Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi 2017; các Nghị định 110/2005/NĐ-CP, 42/2014/NĐ-CP, 40/2018/NĐ-CP, 141/2018/NĐ-CP) và các quy tắc ứng xử của Hiệp hội Bán hàng trực tiếp thế giới (WFDSA).
  • Dữ liệu thực tiễn thứ cấp: Các báo cáo tổng kết của Bộ Công Thương, báo cáo kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (giai đoạn 2015 - 2019), danh mục các doanh nghiệp được cấp phép và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp tính đến tháng 12 năm 2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bán hàng đa cấp bất chính và pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về mô hình phân phối đa cấp, phân biệt giữa hoạt động chân chính và các hành vi bất chính, đồng thời khảo cứu kinh nghiệm quốc tế:

  1. Lịch sử hình thành và khái niệm bán hàng đa cấp:

    • Nguồn gốc: Phương thức BHĐC bắt nguồn từ sáng kiến phân phối chất bổ sung dinh dưỡng của Carl Rehnborg tại Hoa Kỳ (thành lập Vitamin Products Company năm 1935, đổi tên thành Nutrilite Products, Inc. năm 1940) dựa trên nguyên tắc trả hoa hồng cho người giới thiệu sản phẩm và hỗ trợ xây dựng mạng lưới.
    • Khái niệm: BHĐC là phương thức bán lẻ hàng hóa trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua mạng lưới phân phối viên độc lập gồm nhiều cấp, nhiều nhánh. Người tham gia được hưởng hai nguồn thu nhập: hoa hồng trực tiếp từ doanh số cá nhân và hoa hồng gián tiếp từ doanh số tiêu thụ của mạng lưới tuyến dưới do mình xây dựng.
    • So sánh với bán hàng đơn cấp: Bán hàng đơn cấp chỉ chi trả thù lao trên doanh số cá nhân của người bán, trong khi BHĐC cho phép người tham gia bảo trợ người mới để hình thành hệ thống nhiều tầng và nhận hoa hồng dựa trên kết quả bán hàng của các tầng đó.
  2. Bản chất và dấu hiệu của bán hàng đa cấp bất chính:

    • Lịch sử biến tướng: Mô hình hình tháp lừa đảo (Pyramid scheme) bắt đầu xuất hiện rõ nét từ các công ty của Glen Turner (Dare to Be Great, Koscot Interplanetary) tại Hoa Kỳ vào thập niên 1960, nơi lợi nhuận chủ yếu đến từ việc tuyển mộ người mới thay vì lưu thông hàng hóa.
    • Bản chất pháp lý: BHĐC bất chính là hành vi kinh doanh mang bản chất chiếm dụng vốn, gian dối về công dụng hàng hóa và cơ hội thu nhập. Doanh nghiệp và những người ở tầng trên thu lợi chủ yếu từ tiền đóng góp hoặc phí tham gia của người mới bị lôi kéo vào hệ thống, chứ không dựa trên lượng hàng hóa thực tế được tiêu thụ ngoài thị trường.
Tiêu chí phân biệt Bán hàng đa cấp chân chính Bán hàng đa cấp bất chính (Mô hình kim tự tháp)
Bản chất hoạt động Tiếp thị, lưu thông hàng hóa thực tế tới người tiêu dùng Chiếm dụng vốn, lôi kéo tuyển dụng người tham gia
Nguồn gốc thu nhập Trích từ doanh số bán sản phẩm thực tế của cá nhân và mạng lưới Trích từ tiền đóng phí, đặt cọc hoặc tiền mua hàng bắt buộc của tuyến dưới
Điều kiện tham gia Không bắt buộc mua hàng hóa, không bắt buộc đặt cọc Bắt buộc đóng tiền, đặt cọc, hoặc mua lượng hàng hóa giá cao
Chính sách hàng hóa Giá cả phù hợp giá trị thực, có chính sách mua lại hàng tồn kho Thổi phồng công dụng, giá bán cao bất thường, không mua lại hàng tồn kho
  1. Lý luận về pháp luật chống bán hàng đa cấp bất chính và kinh nghiệm quốc tế:
    • Luận án xác định pháp luật chống BHĐC bất chính bao gồm hệ thống các quy phạm điều chỉnh điều kiện kinh doanh, nghĩa vụ minh bạch thông tin và các chế tài nghiêm khắc nhằm bảo vệ trật tự thương mại và người tiêu dùng.
    • Khảo cứu kinh nghiệm pháp luật: Hoa Kỳ (tiêu chuẩn phân định của US-FTC dựa trên tỷ lệ doanh số bán lẻ ngoài hệ thống); Canada (luật hóa định nghĩa mô hình kim tự tháp); Nhật Bản, Hàn Quốc (quản lý nghiêm ngặt phương thức bán hàng tận cửa và hạn chế mức trần trả thưởng); Trung Quốc (áp dụng các biện pháp quản lý nghiêm khắc đối với hành vi truyền tiêu phi pháp). Từ đó, rút ra bài học cho Việt Nam về việc kết hợp giữa kiểm soát điều kiện gia nhập thị trường và tăng cường chế tài trừng phạt.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về chống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 phân tích chi tiết hệ thống quy định pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn thực thi xử lý vi phạm trong giai đoạn 2015 - 2019/2020:

  1. Thực trạng các quy định kiểm soát điều kiện kinh doanh:

    • Dấu hiệu nhận diện hành vi cấm: Phân tích các hành vi bị cấm quy định tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP như cấm yêu cầu đặt cọc hoặc mua hàng để được tham gia, cấm trả hoa hồng cho việc tuyển dụng người mới, cấm cung cấp thông tin sai lệch về công dụng sản phẩm và sơ đồ trả thưởng.
    • Điều kiện đăng ký hoạt động: Pháp luật quy định chặt chẽ về chủ thể (phải là doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam), đối tượng kinh doanh (chỉ được kinh doanh hàng hóa hữu hình, cấm kinh doanh dịch vụ và các dạng tiền kỹ thuật số theo phương thức đa cấp), vốn điều lệ tối thiểu và nghĩa vụ ký quỹ tại ngân hàng thương mại (tối thiểu 10 tỷ đồng theo Nghị định 40/2018/NĐ-CP).
    • Hệ thống quản lý thông tin: Bắt buộc doanh nghiệp phải có trang thông tin điện tử, hệ thống công nghệ thông tin quản lý mạng lưới người tham gia và hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam để phục vụ công tác thanh tra, giám sát.
  2. Hệ thống chế tài xử lý vi phạm pháp luật:

    • Chế tài hành chính: Quy định chi tiết tại Nghị định số 141/2018/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh và thương mại), nâng mức phạt tiền và áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung như đình chỉ hoạt động, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp.
    • Chế tài dân sự: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự khi doanh nghiệp hoặc người tham gia có hành vi lừa dối, cung cấp sai lệch thông tin gây thiệt hại cho khách hàng.
    • Chế tài hình sự: Bước chuyển biến mang tính pháp chế cao khi Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bổ sung Điều 217a quy định về "Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp", hình sự hóa hành vi kinh doanh đa cấp khi chưa được cấp phép hoặc kinh doanh không đúng nội dung giấy phép trong trường hợp thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại tài sản lớn.
  3. Thực tiễn thực thi và đánh giá thực trạng:

    • Số liệu thực tiễn: Luận án dẫn chứng số liệu xử phạt của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng từ năm 2015 đến năm 2019 (Bảng biểu 2.1, Biểu đồ 2.1 và Biểu đồ 2.2 trong văn bản), phản ánh việc thanh tra, xử lý quyết liệt đã làm giảm mạnh số lượng doanh nghiệp bán hàng đa cấp hoạt động chính thức (từ hơn 60 doanh nghiệp xuống còn hơn 20 doanh nghiệp được cấp phép tính đến cuối năm 2020).
    • Điểm đạt được: Khung pháp lý ngày càng hoàn thiện, tạo cơ chế sàng lọc các doanh nghiệp yếu kém, nâng cao tính minh bạch thị trường và tăng cường bảo vệ người tiêu dùng.
    • Hạn chế, bất cập: Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý trung ương (Bộ Công Thương) và chính quyền địa phương (Sở Công Thương, UBND các cấp) còn thiếu đồng bộ; các quy định giám sát hoạt động tổ chức hội nghị, hội thảo tại địa phương chưa chặt chẽ; thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với các biến tướng kinh doanh đa cấp trá hình trên không gian mạng và các lĩnh vực phi hàng hóa (dịch vụ, sàn tài chính, bất động sản).

Chương 3: Định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chống bán hàng đa cấp bất chính

Chương 3 đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi:

  1. Bốn định hướng hoàn thiện pháp luật:

    • Nhận diện chính xác và toàn diện những hạn chế của khung pháp luật thực định.
    • Đáp ứng yêu cầu tất yếu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và các cam kết thương mại.
    • Đặt trọng tâm vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bán hàng đa cấp chân chính và người tiêu dùng.
    • Đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
  2. Các nhóm giải pháp cụ thể:

    • Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:
      • Bổ sung định nghĩa pháp lý trực tiếp và cụ thể về hành vi "bán hàng đa cấp bất chính" trong các văn bản quy phạm pháp luật, thay vì chỉ liệt kê các hành vi cấm.
      • Hoàn thiện quy định về quản lý chất lượng và định giá hàng hóa kinh doanh đa cấp để ngăn chặn hiện tượng nâng khống giá bán.
      • Sửa đổi, hoàn thiện các điều kiện kinh doanh: quy định cụ thể hơn về địa điểm hoạt động kinh doanh tại địa phương và trách nhiệm của người đại diện tại địa phương.
      • Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chế tài xử phạt hành chính và phân định ranh giới rõ ràng giữa chế tài hành chính với chế tài hình sự theo Điều 217a Bộ luật Hình sự.
    • Nhóm giải pháp về tổ chức quản lý nhà nước:
      • Rà soát, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý chuyên ngành từ trung ương (Bộ Công Thương, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng) đến địa phương (Sở Công Thương).
      • Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định số 40/2018/NĐ-CP nhằm đảm bảo tính khả thi và thống nhất trong áp dụng.
      • Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa ngành Công Thương, cơ quan Công an, cơ quan Quản lý thị trường, cơ quan Thuế và Ngân hàng Nhà nước trong kiểm tra dòng tiền và giao dịch đáng ngờ.
    • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
      • Tăng cường năng lực chuyên môn và công tác thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với mạng lưới phân phối của các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp.
      • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật và công khai danh sách các doanh nghiệp vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức cảnh giác của người dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn

Căn cứ nội dung tác giả tự công bố, luận án mang lại 6 điểm đóng góp mới:

  1. Hoàn thiện lý luận: Làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về bản chất của hành vi BHĐC bất chính và pháp luật chống BHĐC bất chính, đóng góp cơ sở lý luận phù hợp với điều kiện Việt Nam và xu thế lập pháp quốc tế.
  2. Làm rõ thực trạng pháp luật: Phân tích, bình luận toàn diện hệ thống quy định hiện hành, đối chiếu lịch sử văn bản và pháp luật quốc tế để chỉ ra các điểm tiến bộ cùng những hạn chế của pháp luật Việt Nam.
  3. Cung cấp dữ liệu thực tiễn thời sự: Hệ thống hóa bức tranh thực tế về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp và công tác xử lý các hành vi vi phạm pháp luật giai đoạn 2015 - 2019/2020.
  4. Đánh giá nguyên nhân bất cập: Đánh giá khách quan những thành tựu và tồn tại trong quá trình tổ chức thực thi pháp luật, chỉ ra nguyên nhân gốc rễ dẫn đến việc khó kiểm soát triệt để các biến tướng đa cấp.
  5. Xác định định hướng hoàn thiện: Luận giải sự cần thiết và xác lập 4 định hướng nền tảng cho việc hoàn thiện chính sách, pháp luật chống BHĐC bất chính trong bối cảnh mới.
  6. Đề xuất hệ thống giải pháp: Đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ, từ việc hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước đến các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi và tuyên truyền xã hội.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc thực thi các chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh đa cấp.
  • Nâng cao tiêu chuẩn kiểm soát điều kiện hoạt động tại địa phương đối với các doanh nghiệp được cấp phép.
  • Tăng cường cơ chế thanh tra, kiểm tra liên ngành và xử lý nghiêm các hành vi mượn danh đa cấp để huy động vốn trái phép.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Về phạm vi điều chỉnh pháp lý: Luận án giới hạn nghiên cứu đối tượng của BHĐC theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành là hàng hóa hữu hình, chưa đi sâu giải quyết khung pháp lý đối với các mô hình đa cấp biến tướng dựa trên dịch vụ vô hình, kinh doanh khóa học hoặc các sản phẩm đầu tư tài chính số.
  • Về dữ liệu thời gian: Dữ liệu thực tiễn và số liệu xử phạt hành chính của các cơ quan chức năng được khảo sát chủ yếu dừng lại ở mốc giai đoạn 2015 đến năm 2019 và danh sách doanh nghiệp đến cuối năm 2020.
  • Về mức độ khảo cứu quốc tế: Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài (Hoa Kỳ, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) được sử dụng chủ yếu dưới dạng tài liệu tham chiếu, đối chiếu lý luận chứ chưa phân tích sâu toàn bộ cơ chế tố tụng tư pháp của từng nước.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế kiểm soát pháp lý đối với các biến tướng đa cấp tài chính, đa cấp tiền mã hóa và kinh doanh đa cấp trên nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới.
  • Nghiên cứu hoàn thiện các quy định về tố tụng dân sự và cơ chế bồi thường thiệt hại tập thể cho nạn nhân trong các vụ án lừa đảo kinh doanh đa cấp quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan xây dựng chính sách và lập pháp (Quốc hội, Bộ Công Thương): Cung cấp cơ sở lý luận và luận cứ thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện, sửa đổi các nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp và các quy định xử phạt vi phạm hành chính.
  • Đối với cơ quan thực thi và tư pháp (Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, Sở Công Thương, Tòa án, Viện Kiểm sát, Cơ quan Công an): Cung cấp hệ thống tiêu chí nhận diện hành vi phạm pháp, hỗ trợ việc phân định ranh giới giữa tranh chấp dân sự, vi phạm hành chính và tội phạm hình sự theo Điều 217a Bộ luật Hình sự.
  • Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho giảng viên, học viên cao học, sinh viên ngành Luật kinh tế, Luật Thương mại và Quản lý kinh tế tại các trường đại học.
  • Đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng: Giúp doanh nghiệp định hình mô hình kinh doanh hợp pháp, đồng thời cung cấp kiến thức pháp lý giúp người dân nhận diện các dấu hiệu lừa đảo để tự bảo vệ quyền lợi cá nhân.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất của bán hàng đa cấp bất chính được luận án xác định dựa trên những tiêu chí nào?

Luận án xác định BHĐC bất chính là phương thức kinh doanh mang bản chất chiếm dụng vốn và gian dối. Tiêu chí cốt lõi để nhận diện là: lợi ích kinh tế của doanh nghiệp và những người ở tầng trên trong mạng lưới không bắt nguồn từ kết quả bán lẻ hàng hóa thực tế cho người tiêu dùng ngoài xã hội, mà chủ yếu trích từ các khoản tiền đóng góp, đặt cọc hoặc tiền mua hàng bắt buộc của những người mới bị lôi kéo tham gia vào hệ thống.

2. Mô hình hình tháp lừa đảo (Pyramid scheme) có nguồn gốc lịch sử từ đâu theo nghiên cứu của tác giả?

Theo tư liệu luận án, mô hình hình tháp lừa đảo bắt đầu bùng phát và được nhận diện rõ nét tại Hoa Kỳ vào thập niên 1960 với sự xuất hiện của các công ty do Glen Turner sáng lập (tiêu biểu là Glen W. Turner Enterprises với các tập đoàn như Koscot Interplanetary và Dare to Be Great). Mô hình này tập trung thu lợi nhuận thông qua việc tuyển mộ mạng lưới người mới đóng tiền tham gia các khóa huấn luyện thay vì phân phối sản phẩm thực tế.

3. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam đã phát triển qua các văn bản then chốt nào?

Hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động này lần đầu tiên tại Luật Cạnh tranh năm 2004, sau đó được cụ thể hóa và thay thế qua ba thế hệ nghị định chuyên ngành:

  • Nghị định số 110/2005/NĐ-CP (văn bản đầu tiên về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp).
  • Nghị định số 42/2014/NĐ-CP (thay thế Nghị định 110/2005/NĐ-CP nhằm siết chặt quản lý).
  • Nghị định số 40/2018/NĐ-CP (văn bản thay thế Nghị định 42/2014/NĐ-CP, điều chỉnh toàn diện hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp). Hệ thống này được bổ sung chế tài xử phạt tại Nghị định số 141/2018/NĐ-CP và chế tài hình sự tại Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

4. Tội vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp được quy định tại điều khoản nào của Bộ luật Hình sự?

Hành vi này được quy định tại Điều 217a Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018). Điều luật này quy định chế tài hình sự đối với các hành vi kinh doanh theo phương thức đa cấp mà không có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động hoặc kinh doanh không đúng với nội dung giấy chứng nhận đã được cấp, khi thỏa mãn các yếu tố cấu thành về mức thu lợi bất chính hoặc giá trị thiệt hại gây ra.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Pháp luật về chống bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Trần Ngọc Dung là công trình nghiên cứu toàn diện về chế định pháp luật chống các hành vi biến tướng trong kinh doanh đa cấp tại Việt Nam dưới góc độ luật kinh tế. Tác giả đã làm rõ ranh giới lý luận giữa phương thức phân phối đa cấp chân chính với mô hình hình tháp chiếm dụng vốn bất chính, đồng thời đánh giá có hệ thống thực trạng các quy định điều kiện kinh doanh và chế tài xử lý vi phạm trong giai đoạn 2015 - 2020. Hệ thống các giải pháp được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học xác thực nhằm hoàn thiện khung pháp luật, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và thiết lập môi trường cạnh tranh thương mại lành mạnh tại Việt Nam.