CHƯƠNG 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA TỈNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách quản lý nhà nước về thương mại - Khái niệm chính sách Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trên sách báo, các phương tiện thông tin và đời sống xã hội.
Mọi chủ thể kinh tế - xã hội đều có những chính sách riêng của mình. Ví dụ, có chính sách của các cá nhân, chính sách của doanh nghiệp, chính sách của Đảng, chính sách của một quốc gia, chính sách của một liên minh các nước hay tổ chức quốc tế v. Một tác giả khác cho rằng: “Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể khẳng định và thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại”.13] Chính sách là phương thức hành động của Nhà nước để tác động tới kết quả của các sự kiện kinh tế - xã hội, bao gồm một tập hợp mục tiêu của Nhà nước và các phương pháp được lựa chọn để theo đuổi các mục tiêu đó. Chính sách là tập hợp những biện pháp thể chế hóa quan điểm của cơ quan quản lý nhà nước đối với các đối tượng quản lý.
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể thấy chính sách có ba đặc trưng cơ bản sau: + Là hệ thống một loạt các hoạt động có tính mục đích của chủ thể cơ quan quản lý để giải quyết một vấn đề nào đó của hệ thống hoặc tổ chức. 5 + Chúng là tập hợp của các bước để giải quyết những vấn đề của hệ thống của tổ chức. + Xuất phát từ mục tiêu và gắn với mục tiêu của hệ thống quản lý. Từ các nhận định trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm chính sách như sau: Chính sách là tổng thể các quan điểm, chủ trương, chiến lược, quy hoạch, nguyên tắc, công cụ, biện pháp mà Nhà nước lựa chọn để tác động vào một linh vực nào đó trong đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được những mục tiêu đã định.
Theo Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội của Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết vấn đề của chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước”.26] - Chính sách quản lý nhà nước về kinh tế Chính sách QLNN về kinh tế là tổng thể các nguyên tắc, các quy định, biện pháp mà Nhà nước sử dụng để tác động lên nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước. - Chính sách quản lý nhà nước về thương mại Theo Giáo trình Quản lý nhà nước về Thương mại của trường Đại học Thương Mại cho rằng: “Chính sách quản lý nhà nước về thương mại (hay chính sách của Nhà nước về quản lý thương mại) là tổng thể các nguyên tắc, các quy định, biện pháp mà Nhà nước sử dụng để tác động tới lĩnh vực thương mại nhằm đạt mục tiêu đã xác định trong từng giai đoạn cụ thể trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội”.199] Chính sách với tư cách là công cụ của quản lý nhà nước về thương mại bao giờ cũng phản ánh quan điểm, chủ trương của Nhà nước cũng như các hành động cần thiết của Chính phủ, chính quyền địa phương nhằm đạt mục tiêu cụ thể về phát triển thương mại và thị trường trong một giai đoạn nhất định. Bất cứ chính sách nào liên quan tới thương mại cũng đều phải xác định rõ ràng, cụ thể các quan điểm, nguyên tắc và mục tiêu của chính sách. Chính sách thể hiện các quy định của Nhà nước trong việc sử dụng các biện pháp về kinh tế hoặc ngoài kinh tế, các công cụ quản lý để tác động tới các chủ thể kinh doanh, nhà đầu tư vào lĩnh vực thương mại và các hoạt động trao đổi mua bản của họ.
Các biện pháp về kinh tế thường giữ vai trò động lực điều tiết, kích thích. Các công cụ của chính sách quản lý thương mại phải có khả năng kiểm soát được, có hiệu lực thực thi và mang tính độc lập hay khác biệt. Nhà nước có những cách thức sử dụng, can thiệp bằng các công cụ hay biện pháp chính sách khác nhau như: trực tiếp hoặc gián tiếp, áp đặt bắt buộc hay định 6 hướng hành vi theo quy tắc, chuẩn mực nhất định (theo các nguyên tắc của quản lý nhà nước). Khái niệm thúc đẩy xuất khẩu dệt may - Xuất khẩu Theo Điều 28, mục 1, chương 2, Luật Thương mại năm 2005: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”.49] Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương.
Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hóa thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các DN tham gia nói riêng. Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian.
Nó có thể diễn ra trong thói gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. - Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Xuất khẩu hàng dệt may là việc đưa các sản phẩm hàng dệt may đi sang thị trường nước ngoài hoặc đưa vào khu vực đặc biệt trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Với cơ cấu kinh tế toàn cầu bổ sung cho nhau, môi trường quốc tế thuận lợi, xu thế tự do hóa thương mại, khu vực hóa và toàn cầu hóa nền kinh tế, hoạt động xuất khẩu hàng dệt may có nhiều bước biến chuyển vượt bậc và phát triển mạnh mẽ. Quy mô xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam được mở rộng tương xứng với tiềm lục kinh tế của Việt Nam và như cầu nhập khẩu của các nước trên thế giới.
Từ các khái niệm nêu trên ta có thể định nghĩa khái niệm thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may như sau: Thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may là một phương thức thúc đẩy tiêu thụ hàng dệt may mà trong đó nó bao gồm tất cả các biện pháp, chính sách, cách thức. của Nhà nước và các doanh nghiệp dệt may nhằm tạo ra các cơ hội và khả năng để tăng giá trị cũng như sản lượng của hàng dệt may được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Khái niệm chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may 7 Chính sách thúc đẩy xuất khẩu được hiểu là các chính sách do cơ quan quản lý nhà nước (trung ương hoặc địa phương) ban hành tác động vào lĩnh vực xuất khẩu nói chung hoặc một lĩnh vực cụ thể nhằm mục đích tăng cường sức mạnh, dành ưu tiên ưu đãi để các hoạt động xuất khẩu được tiến triển nhanh hơn, đạt kết quả cao hơn. Từ khái niệm trên ta có thể định nghĩa chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may như sau: Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may là tổng thể các quan điểm, chủ trương, chiến lược, quy hoạch, nguyên tắc, công cụ, biện pháp mà Nhà nước (trung ương hoặc địa phương) lựa chọn để tác động vào lĩnh vực xuất khẩu hàng dệt may trong đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia (hoặc địa phương) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được những mục tiêu tăng trưởng đã định.
Một số lý thuyết về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh 1. Đặc điểm hàng dệt may, các phương thức xuất khẩu hàng dệt may - Đặc điểm hàng dệt may + Đặc điểm về nhu cầu và tiêu thụ: Sản phẩm phong phú, đa dạng tùy thuộc vào đối tượng tiêu dùng khác nhau thì nhu cầu sẽ khác nhau; sản phẩm mang tính thời trang cao, mẫu mã, kiểu dáng, chất liệu thay đổi thường xuyên; mang tính thời vụ và phụ thuộc nhiều vào thu nhập, thói quen của người tiêu dùng. + Đặc điểm về sản xuất: Sử dụng nhiều lao động giản đơn nên sản xuất hàng dệt may thường phát triển ở các nước đang phát triển, phát huy được lợi thế nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ. + Đặc điểm về thị trường: Các nước nhập khẩu đều có những chính sách để bao hộ chặt chẽ đối với hàng dệt may để kiểm soát môi trường và xã hội.
- Các phương thức xuất khẩu hàng dệt may + Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức xuất khẩu do một DN trong nước trực tiếp xuất khẩu hàng dệt may cho một DN nước ngoài thông qua các tổ chức của chính mình. Để có thể xuất khẩu trực tiếp. DN phải có bộ phận chuyên trách xuất khẩu. Bộ phận này có thể độc lập với bộ phận bán hàng trong nước và được cung cấp tài chính theo yêu cầu.
Nhân viên của bộ phận này nhất thiết phái được đào tạo về nghiệp vụ ngoại thương. + Xuất khẩu gián tiếp Xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu mà nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu phải thông qua một người thứ ba, người này là trung gian. + Xuất khẩu gia công uỷ thác 8 Xuất khẩu gia công uỷ thác là một hình thức xuất khẩu trong đó đơn vị ngoại thương đứng ra nhập nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho các xí nghiệp gia công, sau đó thu hồi thành phẩm để bán cho bên nước ngoài, đơn vị được hướng phi ủy thác theo thoả thuận với các xí nghiệp ủy thác. + Xuất khẩu ủy thác Xuất khẩu ủy thác là hình thức xuất khẩu trong đó DN xuất khẩu đóng vai trò trung gian, đại diện cho nhà sản xuất, kí kết hợp đồng xuất khẩu và làm thủ tục xuất khẩu, sau đó DN được hưởng % theo lợi nhuận hoặc một số tiền nhất định, theo thương vụ hay theo kỳ hạn.
Hình thức này có thể phát triển mạnh khi DN đại diện cho người sản xuất có uy tín và trình độ nghiệp vụ cao trên thị trường quốc tế.