Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu về chính sách công 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Các công trình nghiên cứu về khái niệm CSC của các tác giả: Michael Howlett and M.Ramesh: Studying Public Policy: Policy Cycles and Policy Subsystems [200]; J.Anderson, Planning for public policies [197]; H.Laswell với cuốn The Policy Sicence [195] và F.Morstein Marx, The Social Function of Public Adminisstration [191] … đã đề cập đến các quan niệm về CSC. Trong đó chỉ rõ những đặc trưng, vị trí, vai trò và quy trình CSC nói chung.
Các công trình nghiên cứu về quá trình CSC của các tác giả: H. Lasswell, Overview of Policy Sicence [190], đã chia quá trình CSC thành 7 giai đoạn, bao gồm: (1) Thu thập thông tin; (2) Đề xuất; (3) Ra quyết định; (4) Hướng dẫn; (5) áp dụng; (6) Kết thúc; (7) Đánh giá; J. Anderson (1990), Planning for public policies [197], đã chia quá trình CSC thành 5 giai đoạn, bao gồm: (1) Thiết lập chương trình nghị sự, (2) Hình thành chính sách, (3) Ra quyết định chính sách, (4) Thực hiện chính sách, (5) Đánh giá chính sách; G.de Leon, The foundations of policy analysis [192], đã chia quá trình CSC gồm 5 giai đoạn, đó là: (1) khởi xướng; (2) tranh luận; (3) lựa chọn; (4) thực thi; (5) đánh giá và kết thúc… Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến các giai đoạn trong quy trình CSC, tuy nhiên do cách tiếp cận khác nhau mà phân chia CSC thành một quá trình gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Các công trình nghiên cứu của tác giả: Parker, B, Planning Analysis: The Theory of Citizen Participation [204]; Nabatchi, T., A manager's guide to evaluating citizen participation [201]; Cohen, J.
and Uphoff, N, Rural Development Participation: Concepts and Measure for Project Design, Implementation and Evaluation [186]; Rifkin, S. B, và Kangere, M, What is participation [205] … đã đề cập đến các quan điểm về khái niệm tham gia và phương thức tham gia của người dân vào quá trình chính sách. Các công trình nghiên cứu của các tác giả: Box, R. C, Citizen governance: Leading American communities into the 21st century: Sage Publications [184]; Weeks, E.
C, The practice of deliberative democracy: Results from four large‐scaletrials [207]; Irvin, R. A, và Stansbury, J, Citizen participation in 7 luan an decision making: Isit worth the effort? [196]; Parker, B., Planning Analysis: The Theory of Citizen Participation [204]… đã chỉ ra những mặt tích cực, tiêu cực và cách thức hạn chế những tiêu cực để khuyến khích mở rộng sự tham gia các nhân tố vào quá trình CSC. Điển hình là nghiên cứu của Irvin và Stansbury [196], tác giả đã chỉ ra những lợi ích đối với cả công dân và chính phủ trong việc tham tham gia ban hành quyết định. Cụ thể, công dân được học tập từ công chức, gia tăng kỹ năng tham gia, tránh sự bế tắc và chi phí kiện tụng.
Ngược lại, chính phủ được học hỏi từ dân, có thêm nhiều ý tưởng, đạt được tính hợp lý trong các quyết định của mình. Các công trình nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu về khái niệm CSC của các tác giả như: cuốn Chính sách công - những vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn Hữu Hải [58]; cuốn Những vấn đề cơ bản về chính sách và quá trình chính sách của tác giả Lê Chi Mai [94]; cuốn Lựa chọn công cộng một tiếp cận nghiên cứu CSC của Viện chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh [74]; Lê Vinh Danh, CSC của Hoa Kỳ: Giai đoạn 1935-2001 [34]; cuốn Khoa học CSC của Học viện Báo chí và Tuyên truyền [71]; Học viện Hành chính (2008), giáo trình Hoạch định và phân tích CSC, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội[75]; cuốn Đại cương về CSC [60] và Đại cương về phân tích CSC tác giả Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (2013) [59], NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; cuốn Chính sách công của tác giả Phạm Quý Thọ (2013) NXB Thống kê [142]; Giáo trình Khoa học chính sách của tác giả Vũ Cao Đàm (2011) Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội [51]; sách chuyên khảo Chính sách công, lý luận và thực tiễn của tác giả Cao Quốc Hoàng và cộng sự, Nxb Tư Pháp, Hà Nội [69] … đã nêu lên các cách tiếp cận về tổng quan về CSC, giúp phân biệt CSC với chính sách của các tổ chức phi Nhà nước, mỗi cách tiếp cận đã nêu lên một định nghĩa về CSC của các nhà nghiên cứu, qua đó đã cung cấp các quan niệm khác nhau những hiểu biết nhất định về CSC. - Các công trình nghiên cứu về quá trình CSC như cuốn CSC những vấn đề cơ bản của tác giả Nguyễn Hữu Hải [58]; cuốn Giáo trình chương trình đào tạo thạc sĩ chính trị học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ chí Minh [72]; cuốn Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, Lê Chi Mai [94]; cuốn“Quản lý công” của tác giả Trần Anh Tuấn và Nguyễn Hữu Hải [163]; cuốn “Tìm hiểu về khoa học chính sách công”, của Viện Khoa học Chính trị, Học viện Chính trị quốc 8 luan an gia Hồ Chí Minh [73]; Chính sách công, lý luận và thực tiễn, [69] và Phân tích, đánh giá chính sách công, lý thuyết, thực tiễn [70] của tác giả Cao Quốc Hoàng và các tác giả…Tất cả những công trình này, ở những khía cạnh và cấp độ khác nhau đã cung cấp những kiến thức lý luận chung nhất về quá trình phát triển khoa học chính sách; Tuy nhiên, trong các nghiên cứu nêu trên, việc phân chia các giai đoạn trong quá trình chính sách cũng đang còn có nhiều quan điểm khác nhau.
Các công trình nghiên cứu về chính sách nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông thôn mới 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài 1. Các công trình nghiên cứu ở Trung Quốc Nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi tắt là “Tam nông”) là vấn đề được Đảng cộng sản Trung Quốc quan tâm, bởi đó không đơn thuần là kinh tế mà còn là vấn đề chính trị, xã hội - một hệ thống vấn đề tổng thể, xuyên suốt và gắn kết với toàn bộ quá trình chuyển đổi và phát triển kinh tế, xã hội. Ở một quốc gia đông dân nhất thế giới với 900 triệu nhân khẩu NT và có sản lượng NN đứng đầu thế giới.
Do đó, giải quyết vấn đề tam nông đang là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu để phát triển đất nước của Trung Quốc, nhằm thúc đẩy XDNTM XHCN. Bởi vậy các công nghiên cứu vấn đề NN, nông dân và nông thôn của Trung Quốc có khá nhiều, tiêu biểu như: - Hoàng Thế Kiệt (1992), “Vấn đề XDNTM ở Trung Quốc. Tác giả trình bày tình hình phát triển kinh tế NT Trung Quốc từ khi mở cửa cải cách cho đến nay, nghiên cứu chỉ rõ bối cảnh cơ bản XDNTM, tư tưởng chỉ đạo, biện pháp chủ yếu XDNTM, các loại mô hình NTM và quan điểm, định hướng về XDNTM ở Trung Quốc. - Ole Odgaard, “Kinh tế tư nhân ở nông thôn Trung Quốc - Sự tác động đến phân tầng xã hội và phát triển nông nghiệp” [113].
Tác giả mô tả sự thay đổi tổ chức phân quyền và vấn đề tài nguyên ở NT Trung Quốc. Phát triển hãng kinh doanh nhà nước và tư nhân NT: tác động đến phân phối thu nhập, huy động tài nguyên cho phát triển NN. Sự khác nhau về thu nhập và tầng lớp xã hội trong các hãng. Một số xu hướng hiện nay hình thành các hãng kinh doanh ở NT Trung Quốc.
- Dang Guoying; Transl. Wang, Pingxing, “Nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Trung Quốc” [33]. Tác giả nêu khái quát chung về NN, các vùng NT và các 9 luan an trang trại ở Trung Quốc. Phân tích tình hình kinh tế và xã hội ở các khu vực NT Trung Quốc; sự thành thị hoá và sự luân chuyển dân số NT ra thành thị và đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng một số vùng NTM.
- Cát Chí Hoa, “Từ vùng quê đến NTM” [65]. Cuốn sách tập hợp các bài nghiên cứu về thực trạng và những biến động của NT Trung Quốc trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá NN và NT. Tác giả đã chỉ rõ những vấn đề lý luận về NN, nông dân và NT, trong đó nhấn mạnh về nguồn gốc hình thành và đặc trưng của “tam nông”. - Đổng Liên Tường, “Cải cách xã hội Trung Quốc và những sáng tạo, đổi mới trong xây dựng đảng cơ sở” [164].
Cuốn sách tập trung trình bày về một số vấn đề bức thiết cần phải giải quyết trong công cuộc cải cách xã hội Trung Quốc và công tác xây dựng đảng cơ sở kể từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa năm 1978 đến nay như: thời cơ, thách thức, nhiệm vụ và mục tiêu của công cuộc cải cách xã hội, vai trò, vị trí của công tác xây dựng đảng ở cơ sở; các giải pháp nhằm giải quyết những vướng mắc nảy sinh trong xây dựng đảng cơ sở; các phương pháp nhằm tăng cường và cải tiến công tác xây dựng đảng ở NT. - Trong bài: “Cải cách hệ thống và cấu trúc nông nghiệp của Trung Quốc tiến tới gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO” [42], tác giả DuYing đã điểm lại những thành tựu của NN Trung Quốc sau 20 năm tiến hành chuyển dịch cơ cấu và cải cách NN (1978 - 1999). Đồng thời, tác giả cũng nhận định những cơ hội và thách thức đối với NN Trung Quốc một khi nước này gia nhập WTO, trong đó thách thức được coi là nhiều hơn trong ngắn hạn và chỉ có thể vượt qua bằng một nỗ lực lớn từ phía nhà nước trong việc đưa ra các chính sách NN hợp lý. Những chính sách được gợi ý bao gồm tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sang những loại nông sản có lợi thế so sánh, phát triển công nghiệp chế biến, giải quyết lao động thừa ở NT.
- Chu Chí Hoà, “Đổi mới công tác xây dựng Đảng ở nông thôn” [66]. Theo tác giả, công tác xây dựng Đảng ở NT Trung Quốc phải đổi mới về hàng loạt vấn đề như: cơ cấu tổ chức, công tác giáo dục, quản lý, giám sát đảng viên, công tác lựa chọn, bổ nhiệm bí thư, tổ chức đảng thôn, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Để đổi mới công tác xây dựng đảng ở NT Trung Quốc, theo tác giả, phải đổi mới tư duy, nâng những biện pháp có hiệu quả lên thành chế độ, đồng thời đổi mới 10 luan an chế độ theo sự biến động của tình hình thực tế, đổi mới hình thức tuyên truyền, đổi mới cơ chế theo hướng dân chủ, thông thoáng, khoa học, từng bước thực hiện chế độ hóa, tiêu chuẩn hóa, quy trình hóa công tác xây dựng đảng ở NT.