Tổng quan nghiên cứu

Huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định có diện tích tự nhiên 111,8 km² với quy mô dân số trên 185.000 người phân bổ tại 20 đơn vị hành chính trực thuộc. Đây là một trong những trung tâm Công giáo trọng điểm của Việt Nam với tỷ lệ tín đồ tôn giáo chiếm gần 38% dân số toàn huyện, trong đó tín hữu Công giáo chiếm xấp xỉ 30% với gần 53.000 nhân khẩu. Địa bàn này còn là nơi đặt Tòa Giám mục Bùi Chu - trung tâm điều hành mục vụ của Giáo phận Bùi Chu quản lý 6 huyện phía Nam tỉnh Nam Định với quy mô hơn 388.033 tín hữu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là quá trình Đảng bộ huyện Xuân Trường lãnh đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào Công giáo sau khi huyện được tái lập theo Nghị định số 19/CP năm 1997 cho đến năm 2010. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể nhằm làm rõ những chuyển biến trong nhận thức, phương thức lãnh đạo và kết quả triển khai công tác tôn giáo; đánh giá khách quan các ưu điểm, hạn chế và đúc kết những bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập không gian trên địa bàn toàn huyện Xuân Trường trong khung thời gian 14 năm (1997 - 2010), mốc thời gian gắn liền từ ngày tái lập huyện đến thời điểm tổ chức Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc lượng hóa hiệu quả chính sách qua các chỉ số ổn định an ninh chính trị, tỷ lệ tập hợp quần chúng đạt trên 75% tại các hội đoàn, và mức độ tham gia của 100% giáo xứ vào phong trào xây dựng xứ họ đạo tiên tiến, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất xã hội của tôn giáo, trong đó khẳng định tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, do đó việc giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho quần chúng. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, cốt lõi là tư tưởng "Tín ngưỡng tự do, Lương - Giáo đoàn kết", coi đồng bào có đạo là bộ phận máu thịt không thể tách rời của dân tộc Việt Nam với phương châm hành đạo "Kính Chúa yêu nước" và "Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc".

Nghiên cứu dựa trên hệ thống văn kiện chỉ đạo chiến lược của Đảng, trọng tâm là Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 37-CT/TW năm 1998, Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo, cùng hệ thống pháp luật Nhà nước như Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 gồm 6 chương, 41 điều và Nghị định số 22/2005/NĐ-CP. Ba khái niệm then chốt được vận hành xuyên suốt gồm: quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, và khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ hệ thống văn kiện lưu trữ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tỉnh ủy Nam Định, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện Xuân Trường giai đoạn 1997 - 2010. Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn bộ 20 xã và thị trấn của huyện, kết hợp phương pháp chọn mẫu mục đích đối với các địa bàn trọng điểm có tỷ lệ giáo dân cao như xã Xuân Tiến (84,4%), xã Xuân Ngọc (84,0%), xã Xuân Phương (61,8%) và xã Thọ Nghiệp (53,3%).

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic là hai phương pháp tiếp cận chủ đạo, giúp tái hiện trung thực, khách quan tiến trình lịch sử theo trình tự thời gian gắn với logic phát triển nhận thức của Đảng bộ huyện. Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu thành văn kết hợp chặt chẽ với phương pháp thống kê và khảo sát điền dã thực tế. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính chính xác của các luận cứ, đối chiếu văn bản chỉ đạo với kết quả thực thi sinh động tại cơ sở, phản ánh đúng bức tranh đời sống Công giáo địa phương trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 1997 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng cơ cấu và những bước chuyển biến mạnh mẽ của cộng đồng Công giáo huyện Xuân Trường qua các phát hiện nổi bật:

Thứ nhất, quy mô cơ sở vật chất và thiết chế tôn giáo phát triển hoàn thiện: Toàn huyện có 70 nhà thờ (gồm 20 nhà thờ xứ và 50 nhà thờ họ), 10 tu viện và tu xá thuộc 5 dòng tu nữ (Mân Côi, Đa Minh, Trinh Vương, Thăm Viếng, Mến Thánh Giá) với gần 1.000 nữ tu, trong đó có hơn 300 nữ tu khấn trọn và trên 100 học viên. Hệ thống tổ chức bao gồm 2 giáo hạt (hạt Phú Nhai và hạt Bùi Chu) cùng 27 loại hình hội đoàn quy mô 480 hội, thu hút gần 30.000 hội viên tham gia sinh hoạt thường xuyên.

Thứ hai, mật độ phân bố tín đồ mang tính tập trung cao độ tại các địa bàn truyền thống: Tỷ lệ giáo dân chiếm tỷ trọng áp đảo tại các xã như Xuân Tiến (84,4%), Xuân Ngọc (84,0%), trong khi một số địa bàn có tỷ lệ rất thấp hoặc không có như thị trấn Xuân Trường (1,3%), xã Xuân Thượng (4,5%) và xã Xuân Tân (0%).

Thứ ba, quyền tự do tín ngưỡng được đảm bảo đúng quy định pháp luật: Chính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi tổ chức an toàn tuyệt đối cho các sự kiện tôn giáo trọng đại, tiêu biểu là 2 kỳ Đại Năm Thánh vào năm 1998 và năm 2008, cùng các ngày lễ thường niên như Lễ Kính Quan Thầy Giáo phận (ngày 08 tháng 8) tại Bùi Chu và Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (ngày 08 tháng 12) tại Đền thánh Phú Nhai, thu hút hàng vạn lượt giáo dân tham dự mỗi kỳ.

Thứ tư, hiệu quả từ các phong trào thi đua yêu nước: Đồng bào Công giáo đã phát huy thế mạnh kinh tế làng nghề truyền thống như nghề đúc đồng tại Xuân Tiến, nghề dệt tơ tằm ở Xuân Phương, Xuân Ninh, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện duy trì ổn định, tỷ lệ hộ nghèo trong vùng giáo giảm bình quân từ 1,5% đến 2,0% mỗi năm trong giai đoạn 2006 - 2010.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi tạo nên những thành tựu trên là sự chuyển biến nhận thức sâu sắc của cấp ủy, chính quyền các cấp từ tư duy hành chính mệnh lệnh sang vận động quần chúng theo tinh thần Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003. Việc ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đã thiết lập hành lang pháp lý rõ ràng, giúp giải tỏa các mặc cảm lịch sử và khơi dậy tinh thần yêu nước trong đồng bào có đạo. Khi so sánh với các nghiên cứu về công tác tôn giáo tại vùng Đồng bằng sông Hồng, Xuân Trường là một điển hình thành công về việc giải quyết hài hòa giữa yêu cầu quản lý nhà nước và việc tôn trọng nhu cầu tâm linh chính đáng của tín đồ.

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu tôn giáo có thể được trực quan hóa qua biểu đồ phân bố dân số Công giáo theo 20 đơn vị hành chính và bảng tổng hợp 27 mô hình hội đoàn, cho thấy tính liên kết chặt chẽ của cộng đồng giáo dân. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ rõ một số hạn chế còn tồn tại: công tác quản lý đất đai và cấp phép xây dựng cơ sở thờ tự đôi lúc còn lúng túng; một số công trình tôn tạo nhà thờ huy động nguồn lực đóng góp quá mức của nhân dân; trình độ am hiểu pháp luật tôn giáo của đội ngũ cán bộ cơ sở tại một số xã chưa thực sự đồng đều.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả tổng kết thực tiễn giai đoạn 1997 - 2010, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược:

Thứ nhất, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo: Tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng dân vận định kỳ hàng năm cho 100% cán bộ, công chức làm công tác tôn giáo từ huyện đến 20 xã, thị trấn trong giai đoạn 2 đến 3 năm tiếp theo. Cơ quan chủ trì thực hiện là Huyện ủy và Phòng Nội vụ huyện Xuân Trường.

Thứ hai, thiết lập cơ chế đối thoại định kỳ và phối hợp công tác giữa chính quyền với Tòa Giám mục Bùi Chu: Định kỳ tổ chức tiếp xúc, làm việc 2 lần mỗi năm giữa lãnh đạo huyện với các giám mục, linh mục quản hạt và chức sắc tôn giáo nhằm tháo gỡ kịp thời từ 90% đến 95% các vướng mắc phát sinh trong sinh hoạt tôn giáo và quản lý đất đai thờ tự. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Xuân Trường.

Thứ ba, đẩy mạnh lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế - xã hội tại các địa bàn có đông đồng bào Công giáo: Tập trung đầu tư hạ tầng giao thông nông thôn, hỗ trợ vốn vay ưu đãi phát triển các làng nghề cơ khí đúc đồng tại Xuân Tiến và dệt may tại Xuân Phương, phấn đấu hạ tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Công giáo xuống dưới 3,0% trong chu kỳ kế hoạch 5 năm. Chủ thể chỉ đạo là Ban Thường vụ Huyện ủy phối hợp các phòng ban chuyên môn.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình quản lý quy hoạch đất đai và trật tự xây dựng các công trình tín ngưỡng: Ban hành hướng dẫn đồng bộ để 100% các công trình xây dựng, tôn tạo nhà thờ xứ, nhà thờ họ và tu viện thực hiện đầy đủ thủ tục cấp phép xây dựng theo đúng Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và Luật Đất đai. Đơn vị phụ trách là Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống tư liệu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo, chuyên viên làm công tác tôn giáo, dân vận, Mặt trận Tổ quốc và lực lượng an ninh các cấp: Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn với các bài học kinh nghiệm xử lý tình huống phức tạp trong quản lý 70 cơ sở thờ tự và phương thức vận động chức sắc, giáo dân sống "tốt đời đẹp đạo".

Nhóm thứ hai là học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng, Chính trị học, Tôn giáo học: Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị với hệ thống số liệu chuẩn xác, bao quát 20 xã thị trấn cùng khung lý luận sắc bén về chính sách tôn giáo thời kỳ đổi mới.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa địa phương và giảng viên khoa học xã hội: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về quá trình truyền bá Công giáo từ năm 1533 tại Trà Lũ và những đặc điểm văn hóa tâm linh đặc thù của cư dân đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Nhóm thứ tư là các vị chức sắc, chức việc, tu sĩ thuộc Giáo phận Bùi Chu và Hội đồng giáo xứ: Giúp nắm bắt rõ ràng quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước, từ đó nâng cao tính tự giác chấp hành pháp luật, xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó hài hòa giữa đạo và đời.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Cơ sở pháp lý quan trọng nhất định hình sự đổi mới chính sách tôn giáo giai đoạn 1997 - 2010 là gì? Trả lời: Cơ sở pháp lý và chính trị cốt lõi là Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo, kết hợp cùng Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 gồm 6 chương 41 điều. Các văn bản này khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và tôn trọng quyền tự do tôn giáo.

Câu hỏi 2: Đặc điểm nổi bật nhất của cộng đồng Công giáo tại huyện Xuân Trường là gì? Trả lời: Xuân Trường là một trong những cái nôi đầu tiên tiếp nhận đạo Công giáo tại Việt Nam từ năm 1533 tại Trà Lũ. Toàn huyện có tỷ lệ giáo dân chiếm gần 30% dân số, có Tòa Giám mục Bùi Chu điều hành 6 huyện thị, có Đền thánh Phú Nhai quy mô lớn và tập trung 10 tu viện với gần 1.000 nữ tu thuộc 5 dòng tu lớn.

Câu hỏi 3: Phân bố dân cư Công giáo tại huyện Xuân Trường có đặc trưng như thế nào? Trả lời: Dân số Công giáo phân bố không đồng đều giữa các xã. Tỷ lệ tập trung rất cao tại các xã như Xuân Tiến (84,4%), Xuân Ngọc (84,0%), Xuân Phương (61,8%), Thọ Nghiệp (53,3%). Ngược lại, xã Xuân Tân không có giáo dân (0%), thị trấn Xuân Trường chỉ có 1,3% và xã Xuân Thượng chỉ chiếm 4,5% dân số.

Câu hỏi 4: Đảng bộ huyện Xuân Trường đã làm gì để giải quyết mối quan hệ Lương - Giáo? Trả lời: Cấp ủy đã quán triệt sâu sắc phương châm đại đoàn kết toàn dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xóa bỏ định kiến, đẩy mạnh tuyên truyền vận động quần chúng tham gia 27 loại hình hội đoàn với gần 30.000 hội viên, tạo sự đồng thuận xã hội và cùng thi đua phát triển kinh tế làng nghề truyền thống địa phương.

Câu hỏi 5: Bài học kinh nghiệm lớn nhất rút ra từ quá trình quản lý nhà nước về tôn giáo tại huyện là gì? Trả lời: Bài học then chốt là luôn giữ vững nguyên tắc tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng chính đáng của nhân dân đi đôi với kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo; chuyển đổi phương thức lãnh đạo từ hành chính mệnh lệnh sang đối thoại, đồng hành cùng các chức sắc, chức việc Giáo hội.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đặt ra thông qua các kết luận cốt lõi:

  • Khẳng định tính đúng đắn, nhất quán trong đường lối đổi mới chính sách tôn giáo của Đảng từ sau Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990 và Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn Công giáo huyện Xuân Trường với 70 nhà thờ, 20 giáo xứ và gần 53.000 giáo dân luôn gắn bó cùng dân tộc.
  • Chỉ rõ những thành tựu nổi bật trong việc giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nâng cao đời sống vật chất vùng đồng bào có đạo.
  • Phân tích thẳng thắn các tồn tại trong quản lý đất đai tôn giáo và công tác đào tạo cán bộ chuyên trách cấp cơ sở.
  • Đúc kết 4 nhóm bài học kinh nghiệm sâu sắc có giá trị tham khảo cao đối với các địa bàn trọng điểm tôn giáo trên cả nước.

Đóng góp khoa học chính của công trình là hệ thống hóa có phương pháp luận toàn bộ quá trình thực hiện chính sách tôn giáo đối với Công giáo tại huyện Xuân Trường giai đoạn 1997 - 2010. Để phát triển hướng nghiên cứu này, các nhà khoa học có thể mở rộng nghiên cứu tác động của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào Công giáo trong giai đoạn hiện nay. Quý độc giả, học viên và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp toàn văn tư liệu luận văn để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và hoạch định chính sách tôn giáo tại cơ sở.