Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Nguyễn Xuân Trung với đề tài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng tư tưởng đó vào thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay" được bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Ngọc Anh và PGS. Nguyễn Thúy Vân. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mã số: 62.05).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội nhạy cảm, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống đạo đức, văn hóa, tinh thần và chính trị của các cộng đồng dân cư. Trái với nhận định trước đây cho rằng tôn giáo sẽ nhanh chóng mất đi cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, thực tế cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI chứng kiến sự hồi sinh và phát triển mạnh mẽ của tôn giáo trên phạm vi toàn cầu cũng như tại Việt Nam. Sự phát triển này làm nảy sinh các vấn đề phức tạp về văn hóa - xã hội và an ninh quốc gia, đồng thời tôn giáo tiếp tục bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu quan trọng nhất của đoàn kết tôn giáo. Mặc dù công tác tôn giáo đã đạt được nhiều thành tựu, thực tiễn vẫn bộc lộ những khó khăn, hạn chế đòi hỏi phải được giải quyết từ phương diện lý luận. Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo dưới góc độ triết học và đánh giá sự vận dụng tư tưởng này vào thực tiễn chính sách từ năm 1990 đến nay là một yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp bách.
Mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo; sự vận dụng những quan điểm đó của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xây dựng, củng cố khối đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay.
- Nhiệm vụ nghiên cứu (đánh số theo văn bản):
- Khái quát, hệ thống hóa những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo.
- Đánh giá thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam vào thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất giải pháp thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng tư tưởng này vào thực hiện đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung tìm hiểu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo (chủ yếu trong giai đoạn 1945 - 1969), mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, giữa đoàn kết tôn giáo với khối đại đoàn kết dân tộc, cùng các thành quả của Đảng và Nhà nước trong quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo vào công cuộc đổi mới từ năm 1990 đến năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân loại và tổng quan toàn diện các công trình nghiên cứu liên quan theo ba nhóm chủ đề chính:
Nhóm thứ nhất: Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo. Nhóm này gồm có công trình của tác giả nước ngoài như cuốn sách Thập giá và lưỡi gươm (1988) của Linh mục Trần Tam Tỉnh (Đại học Laval, Canada); hồi ký của Jean Sainteny; sách Hồ Chí Minh với Trung Quốc (1990) của Hoàng Tranh; bài viết của nhà báo Ôxíp Manđenxtam (1923); cuốn Đồng chí Hồ Chí Minh (1995) của Epghênhi Côbêlép. Các công trình trong nước tiêu biểu gồm sách Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng (1996, 1998) và Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam (1998) của Viện Nghiên cứu Tôn giáo với các bài viết của Phạm Như Cương, Đỗ Quang Hưng; bài viết của Ngô Phương Bá (2003); đề cương bài giảng Chủ nghĩa C.Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo (1999) của Trung tâm khoa học về tín ngưỡng và tôn giáo thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; tài liệu tổng thuật của Nguyễn Đăng Vịnh (2001); sách của Mã Giang (2003); kỷ yếu hội thảo Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo (2003) do GS.TS Lê Hữu Nghĩa và TS Nguyễn Đức Lữ đồng chủ biên; luận văn của Đào Thị Hạnh (2005); bài viết của GS.TS Đỗ Quang Hưng (2002); luận án tiến sĩ của Phạm Hữu Xuyên (2007); và đề tài cấp bộ của PGS.TS Nguyễn Đức Lữ (2008).
Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết tôn giáo. Nhóm này bao gồm các sách chuyên khảo: Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh do Phùng Hữu Phú chủ biên (1995); Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh của Nguyễn Khánh Bật, Bùi Đình Phong, Hoàng Trang (1995); Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết và mặt trận đoàn kết dân tộc của Nguyễn Bích Hạnh, Nguyễn Văn Khoan (2001); Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết với vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2004); Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo và đại đoàn kết trong cách mạng Việt Nam do Đỗ Quang Hưng chủ biên (2003); đề tài nghiên cứu Khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc do Nguyễn Mạnh Hưởng làm chủ nhiệm (2003); sách của TS Vũ Văn Hậu (2009); luận văn thạc sĩ của Lý Thị Bích Hồng (2001), Nguyễn Xuân Trung (2008), Đỗ Xuân Hiển (2008), Trần Thị Tuyết Hà (2001), Nguyễn Đức Thịnh (2001), Hồ Xuân Định (2004), Trần Thị Mai Thanh (2005); luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Siu (2011) và Lê Bá Trình (2012); cùng nhiều bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Dân vận, Tạp chí Tư tưởng - Văn hóa, Tạp chí Giáo dục lý luận của Nguyễn Đức Lữ, Lê Đại Nghĩa, Nguyễn Mạnh Hưởng, Văn Thanh Mai, Phạm Hữu Xuyên, Lê Bá Trình, Nguyễn Xuân Trung.
Nhóm thứ ba: Các công trình nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, đoàn kết tôn giáo trong thực hiện công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Nhóm này gắn liền với dấu mốc Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990) của Bộ Chính trị và các công trình đánh giá sau 20 năm thực hiện; luận án phó tiến sĩ của Nguyễn Đức Lữ (1992); sách của Nguyễn Thanh Xuân (1994); sách của Đặng Nghiêm Vạn, Phạm Như Cương, Vũ Khiêu, Trần Đình Hượu, Hà Văn Tấn (1994); sách của Nguyễn Hữu Khiển (2001); sách của Đặng Nghiêm Vạn (2001); đề tài cấp Nhà nước do GS.TS Lê Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm (nghiệm thu 2003); các ấn phẩm của Ban Tôn giáo Chính phủ (2006, 2008, 2009); sách của Đỗ Quang Hưng (2005, 2008); và các công trình biên soạn của PGS.TS Nguyễn Đức Lữ (2011).
Từ việc tổng kết các công trình trên, tác giả đã chỉ ra năm khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết:
- Chưa có công trình nào đề cập dưới góc độ chỉnh thể đầy đủ về mối quan hệ khăng khít giữa tôn giáo và dân tộc, giữa đoàn kết tôn giáo với đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
- Đa số các đề tài chỉ bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tôn giáo nói chung (nội hàm quá rộng) hoặc đoàn kết lương giáo (nội hàm hẹp). Khái niệm "đoàn kết tôn giáo" trong tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được phân tích toàn diện ở ba bình diện: đoàn kết người có đạo với người không có đạo, đoàn kết giữa các tôn giáo khác nhau, và đoàn kết trong nội bộ từng tôn giáo.
- Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận theo chuyên ngành Tôn giáo học hoặc Hồ Chí Minh học; còn thiếu công trình hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Còn rất ít công trình khảo sát cụ thể kết quả vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam giai đoạn đổi mới để đưa ra dự báo và giải pháp cho tình hình mới.
- Hầu hết các tài liệu khi đề cập đến sự vận dụng chỉ dừng lại ở phương pháp luận chung, chưa chỉ ra được những điểm nhấn, những quan điểm cụ thể của Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước thể chế hóa và thực thi như thế nào.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án được xây dựng dựa trên nền tảng:
- Triết học Mác - Lênin, trực tiếp là các nguyên lý, quy luật và phạm trù của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (đặc biệt là mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, nguyên tắc tiếp cận lịch sử - cụ thể đối với tôn giáo).
- Hệ thống quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, tín ngưỡng, tôn giáo và đoàn kết tôn giáo.
- Các nghị quyết, chỉ thị, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và hệ thống luật pháp, chính sách của Nhà nước Việt Nam về công tác tôn giáo.
Về khung phân tích và khái niệm, luận án làm rõ các khái niệm cốt lõi: khái niệm "đoàn kết", sự chuyển biến nội hàm của cặp khái niệm "Lương - Giáo" từ thời phong kiến nhà Nguyễn đến thời đại Hồ Chí Minh, và cấu trúc ba tầng bậc của "đoàn kết tôn giáo" (đoàn kết người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo; đoàn kết giữa các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào, chức sắc trong nội bộ từng tôn giáo). Đồng thời, luận án sử dụng khung phân tích nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa - đạo đức và bản chất con người, coi đức tin tôn giáo và lòng yêu nước là hai mặt có thể dung hòa, thống nhất trong một công dân - tín đồ.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể:
- Phương pháp logic kết hợp với phương pháp lịch sử để tái hiện sự hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo qua các chặng đường cách mạng.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp để xử lý hệ thống văn bản, tác phẩm kinh điển, nghị quyết và tư liệu thực tiễn.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh (như so sánh cách tiếp cận của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin với Hồ Chí Minh; so sánh kinh nghiệm xử lý tôn giáo của Liên Xô, Trung Quốc với Việt Nam).
- Phương pháp phân tích tình huống thực tế để đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tôn giáo.
Về nguồn tư liệu và dữ liệu, luận án khai thác các nguồn văn kiện: Hồ Chí Minh Toàn tập; các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc (đặc biệt là Đại hội VI, IX), các Nghị quyết Trung ương (Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1990, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX); hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Sắc lệnh số 234/SL năm 1955, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004...); báo cáo tổng kết của Ban Tôn giáo Chính phủ, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và các dữ liệu lịch sử từ các kho lưu trữ, thư viện chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có kết cấu gồm phần Mở đầu, 4 chương (10 tiết), Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 (gồm 3 tiết) tập trung phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba mảng nội dung: tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo; tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết tôn giáo; và sự vận dụng tư tưởng này trong công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Chương này làm rõ những kết quả đã đạt được của các học giả tiền bối, đồng thời xác lập luận cứ về 5 khoảng trống nghiên cứu mà luận án hướng tới giải quyết, khẳng định tính tất yếu của việc tiếp cận đề tài từ chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử).
Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
Chương 2 (gồm 2 tiết) trình bày một cách hoàn chỉnh cơ sở hình thành và các quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo:
Về cơ sở hình thành tư tưởng:
- Cơ sở lý luận: Sự kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin về tập hợp lực lượng cách mạng và giải quyết vấn đề tôn giáo; kết hợp với truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng và truyền thống bao dung, hòa đồng tôn giáo của dân tộc Việt Nam.
- Cơ sở thực tiễn: Xuất phát từ yêu cầu đấu tranh chống lại âm mưu chia rẽ tôn giáo của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (như việc Pháp lập ra các tổ chức Phật giáo bù nhìn năm 1922, 1933; Mỹ - Diệm cưỡng ép đồng bào Công giáo di cư vào Nam năm 1954); từ bài học thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX do chưa tập hợp được đồng bào có đạo; từ việc tham khảo kinh nghiệm giải quyết tôn giáo của Liên Xô (Sắc lệnh năm 1918, Hiến pháp năm 1918, 1936, các bài học về khuynh hướng tả khuynh, vô thần cực đoan) và phong trào Tam tự (tự quản, tự dưỡng, tự truyền) của Trung Quốc; cùng với việc nhận thức rõ thái độ chống cộng của Tòa thánh Vatican (thể hiện qua Thông điệp Divini Redemptoris năm 1937 của Giáo hoàng Piô XI). Ngoài ra, nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân, trí tuệ và sự am hiểu sâu sắc đời sống tâm linh, tôn giáo của Nguyễn Ái Quốc đóng vai trò quyết định.
Về những quan điểm cơ bản:
- Vị trí, vai trò: Đoàn kết tôn giáo là một bộ phận khăng khít, hợp thành chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc; là chính sách lâu dài, nhất quán chứ không phải thủ đoạn chính trị nhất thời ("Đoàn kết của ta không những rộng rãi, mà còn đoàn kết lâu dài"). Mục tiêu là tạo sức mạnh tổng hợp để giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Nội dung đoàn kết: Thể hiện qua ba mối quan hệ: (1) Đoàn kết giữa đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo (lương - giáo) trên cơ sở bình đẳng quyền lợi, nghĩa vụ công dân và mục tiêu độc lập tự do; (2) Đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; (3) Đoàn kết nội bộ từng tôn giáo (giữa giáo dân và chức sắc, giữa các hệ phái).
- Phương châm và nguyên tắc: Thực hiện theo phương châm "Rộng rãi - Toàn diện - Chặt chẽ - Lâu dài"; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng; tìm điểm "đại đồng", gác lại "tiểu dị"; nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức và con người; gắn nhu cầu "phần xác ấm no" với "phần hồn thong dong".
Chương 3: Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo của Đảng và Nhà nước vào thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 (gồm 3 tiết) đi sâu đánh giá thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới (từ năm 1990):
- Sự vận dụng thông qua chủ trương, chính sách: Phân tích quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng thể hiện qua Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990) của Bộ Chính trị, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX và việc thể chế hóa thành các văn bản pháp luật của Nhà nước (tiêu biểu là Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004). Đường lối của Đảng khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
- Những kết quả đạt được và nguyên nhân: Đời sống tôn giáo được tôn trọng và đảm bảo; các cơ sở thờ tự được tu bổ, xây dựng; các tổ chức tôn giáo được công nhận và hoạt động theo hiến chương; đồng bào có đạo tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội, từ thiện nhân đạo, sống "tốt đời, đẹp đạo", đồng hành cùng dân tộc; khối đại đoàn kết toàn dân tộc được giữ vững và mở rộng.
- Hạn chế và nguyên nhân: Một số cấp ủy, chính quyền địa phương nhận thức chưa đầy đủ, còn biểu hiện hẹp hòi hoặc buông lỏng quản lý; việc giải quyết các vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự liên quan đến tôn giáo còn lúng túng; đời sống vật chất, văn hóa của một bộ phận đồng bào có đạo ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn; các thế lực xấu vẫn tìm cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động, chống phá.
Chương 4: Bài học kinh nghiệm, những vấn đề đặt ra và một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường khối đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay
Chương 4 (gồm 2 tiết) đúc kết các bài học lý luận - thực tiễn và đề xuất phương hướng, giải pháp:
- Bài học kinh nghiệm và vấn đề đặt ra: Đúc kết bài học về việc luôn phân biệt rõ đức tin tôn giáo thuần túy với hành vi lợi dụng tôn giáo; bài học phát huy vai trò của người có uy tín, chức sắc tôn giáo; bài học gắn công tác tôn giáo với nâng cao đời sống nhân dân. Đồng thời, chương chỉ ra các vấn đề mới nảy sinh từ tác động của toàn cầu hóa, sự xuất hiện của các hiện tượng tôn giáo mới, và các phương thức lợi dụng tôn giáo tinh vi qua không gian mạng.
- Phương hướng và các nhóm giải pháp cơ bản:
- Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội về tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng đối với tôn giáo và đoàn kết tôn giáo.
- Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo.
- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực và trình độ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo đáp ứng yêu cầu tình hình mới.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
| Cấu trúc chương |
Tên chương theo văn bản |
Trọng tâm nội dung và luận điểm chính |
| Chương 1 |
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án |
Tổng quan 3 nhóm công trình; chỉ ra 5 khoảng trống nghiên cứu lý luận và thực tiễn. |
| Chương 2 |
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo |
Luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn; xác lập vị trí chiến lược, nội dung (3 cấp độ) và phương châm đoàn kết tôn giáo. |
| Chương 3 |
Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo của Đảng và Nhà nước vào thực hiện chính sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay |
Đánh giá quá trình thể chế hóa chủ trương (từ Nghị quyết 24 năm 1990); phân tích kết quả, hạn chế và nguyên nhân thực tiễn. |
| Chương 4 |
Bài học kinh nghiệm, những vấn đề đặt ra và một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường khối đoàn kết tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam hiện nay |
Rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử; nhận diện thách thức mới; đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp cơ bản. |
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án góp phần hệ thống hóa một cách toàn diện những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Luận án làm rõ cấu trúc nội hàm của khái niệm đoàn kết tôn giáo, đặc biệt là việc chỉ ra tính tất yếu và vai trò của nội dung đoàn kết đồng bào trong nội bộ từng tôn giáo – một khía cạnh trước đây thường bị bỏ ngỏ hoặc chỉ được xem xét hạn hẹp trong phạm trù đoàn kết lương giáo. Đồng thời, công trình khẳng định tính cách mạng, khoa học và chiều sâu nhân văn trong cách tiếp cận của Hồ Chí Minh khi nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức và con người.
Về mặt thực tiễn, luận án đã tổng kết và đánh giá có hệ thống thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (giai đoạn 1990 - 2014). Công trình đã chỉ rõ những thành tựu đạt được, các mặt tồn tại hạn chế cùng nguyên nhân trực tiếp và sâu xa; từ đó đúc kết những bài học kinh nghiệm quý báu và đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ (về nhận thức, pháp luật, phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cán bộ và phương thức quản lý) nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu của một luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học, công trình tập trung khảo sát văn bản tư tưởng Hồ Chí Minh chủ yếu trong giai đoạn 1945 - 1969 và khảo sát thực tiễn chính sách từ năm 1990 đến năm 2014. Các dữ liệu thực tiễn và khảo sát địa bàn mang tính đại diện theo các báo cáo tổng kết chung, chưa đi sâu phân tích định lượng chi tiết cho từng địa bàn đặc thù (như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ).
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ nền tảng lý luận của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sự biến đổi của đời sống tôn giáo trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tác động của không gian mạng và truyền thông số đối với sinh hoạt tôn giáo, cũng như đi sâu nghiên cứu các hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện sau năm 2014 để tiếp tục hoàn thiện chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Phục vụ trực tiếp việc học tập, nghiên cứu trong các chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tôn giáo học, Hồ Chí Minh học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Xây dựng Đảng.
- Giảng viên, nhà nghiên cứu: Cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị cao về mặt thư mục tổng quan (Chương 1) và khung lý luận triết học về mối quan hệ giữa tôn giáo, dân tộc và chủ nghĩa xã hội (Chương 2).
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo: Cán bộ thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan quản lý nhà nước các cấp có thể tham khảo các bài học kinh nghiệm, phân tích thực trạng và nhóm giải pháp tại Chương 3 và Chương 4 để ứng dụng vào công tác vận động quần chúng tín đồ và hoạch định chính sách tôn giáo.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "đoàn kết tôn giáo" trong luận án được phân biệt với "đoàn kết lương giáo" như thế nào?
Theo luận án, khái niệm "Lương - Giáo" xuất hiện từ thời nhà Nguyễn, ban đầu để chỉ người không theo đạo Thiên Chúa (Lương) và người theo đạo Thiên Chúa (Giáo), sau này được hiểu rộng ra là người không theo tôn giáo và người theo tôn giáo. "Đoàn kết lương giáo" chỉ phản ánh mối quan hệ giữa người có đạo và người không có đạo, hoặc người Công giáo với người ngoài Công giáo. Trong khi đó, "đoàn kết tôn giáo" theo tư tưởng Hồ Chí Minh có nội hàm rộng hơn, gồm ba nội dung: (1) đoàn kết giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo; (2) đoàn kết giữa các tôn giáo khác nhau; và (3) đoàn kết trong nội bộ từng tôn giáo (giữa giáo dân với chức sắc, giữa các hệ phái).
2. Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo như thế nào trong điều kiện Việt Nam?
Chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh cuộc đấu tranh về mặt nhận thức luận, phê phán bản chất duy tâm của tôn giáo để giải phóng giai cấp vô sản. Trong khi đó, ở Việt Nam, trước nguy cơ mất còn của dân tộc, Hồ Chí Minh không chủ trương đấu tranh trực diện về mặt thần học hay giáo lý, mà nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức và con người. Người tìm kiếm sự tương đồng ("đại đồng"), gác lại sự khác biệt ("tiểu dị"), kết hợp hài hòa giữa đức tin tôn giáo và lòng yêu nước ("kính Chúa gắn liền với yêu nước", "sống theo Đảng, chết theo Chúa"), gắn việc chăm lo "phần xác ấm no" với "phần hồn thong dong".
3. Những cơ sở thực tiễn quốc tế nào đã tác động đến sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo?
Cơ sở thực tiễn quốc tế gồm: (1) Kinh nghiệm giải quyết vấn đề tôn giáo của Nhà nước Xô viết (Sắc lệnh tách nhà thờ khỏi nhà nước năm 1918, Hiến pháp 1918, 1936) cùng bài học khắc phục các sai lầm tả khuynh, vô thần cực đoan; (2) Kinh nghiệm từ phong trào "Tam tự" (tự quản, tự dưỡng, tự truyền) của Công giáo và Tin Lành tại Trung Quốc sau năm 1949; (3) Việc nhận diện thái độ chống cộng sản của Tòa thánh Vatican qua Thông điệp Divini Redemptoris năm 1937 của Giáo hoàng Piô XI.
4. Dấu mốc lịch sử nào đánh dấu bước đổi mới thực sự trong nhận thức và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới?
Mặc dù công cuộc đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI (năm 1986), nhận thức và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ thực sự đổi mới căn bản từ năm 1990 với việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới".
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Trung là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với đoàn kết tôn giáo dưới góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Công trình đã làm rõ cơ sở hình thành, cấu trúc ba tầng bậc và giá trị nhân văn sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời đánh giá toàn diện quá trình vận dụng tư tưởng này vào thực tiễn chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ năm 1990 đến năm 2014. Qua đó, luận án đúc kết những bài học kinh nghiệm quý báu và xác lập hệ thống năm nhóm giải pháp cơ bản nhằm củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh phát triển mới của đất nước.