Chương 1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo 1. Nguồn gốc của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo nói riêng có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, tinh hoa van hóa nhân loại, chủ nghĩa Mác — Lénin va pham chat, tai nang H6 Chi Minh. Truyén thong văn hóa của dân tộc Việt Nam Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư tưởng xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo. Theo Người, “.không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới.
Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ.Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm. Với tỉnh thần ấy, Hồ Chí Minh đã trở thành “người Việt Nam hơn bất cứ người Việt Nam nào”, Người là hình ảnh của dân tộc Việt Nam hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Thứ nhất, là chủ nghĩa yêu nước.
Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là cơ sở xuất phát và sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã có quá trình lịch sử hàng ngàn năm với nội dung hết sức phong phú và sâu sắc. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận, khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước. Hồ Chí Minh khi tiếp cận các học thuyết chính trị, tôn giáo đã sử dụng lăng kính ấy để tiếp biến những giá trị tích cực thành cái riêng cho dân tộc Việt Nam.
Hồ Chí Minh đã viết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tỉnh thần ay lại sôi nối, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhắn chim tat ca lũ bán nước và lũ cướp nước” [49, 171 — 172]. Truyền thống yêu nước đó không chỉ là một tình cảm, một phâm chất tinh thần, mà đã phát triển thành chủ nghĩa dân tộc chân chính, là cốt cách của lịch sử 11 dân tộc.
Chủ nghĩa yêu nước sẽ biến thành lực lượng vật chất thực sự khi nó ăn sâu vào tiềm thức và hành động của mỗi người. Chính truyền thống yêu nước đó đã thúc đầy người thanh niên Nguyễn Tất Thành đi tìm đường cứu nước. Chính Hồ Chí Minh đã làm phong phú nội dung của chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước, đối với Người, là gắn liền với yêu nhân dân, là “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bao ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
Thứ hai, tư tưởng nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân, tương ái. Đó là những giá trị truyền thống hết sức đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh). Người thường nhắn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình, có nghĩa.
Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Hồ Chí Minh chỉ rõ đời sống mới là phải “cần, kiệm, liêm, chính”, giữ được thuần phong mỹ tục, “lá lành đùm lá rách”, “đói cho sạch rách cho thơm”, “tối lửa tắt đèn có nhau”. Nếu một mình no ấm mà đề đồng bào xung quanh đói rét. thì dù giảu cũng không hưởng được.
Người khuyên cán bộ, đảng viên khi cư xử với đồng bào thì cần phải thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ. Thứ ba, tỉnh thần lạc quan, yêu đời, cần cù, thông mình, đũng cảm, sảng tạo. Trong muôn ngàn khó khăn, người Việt Nam luôn động viên nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”. Tinh thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của truyền thống dân tộc, vào sự tất thăng của chân lý và chính nghĩa.
Hồ Chí Minh là một minh chứng cho những phẩm chất quý báu đó. Như vậy, truyền thống văn hóa dân tộc nói chung là cơ sở thực tiễn trực tiếp của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo. Tỉnh hoa văn hóa nhân loại Kết hợp các giá trị truyền thống của văn hóa phương Đông với các thành tựu hiện đại của văn minh phương Tây - chính là nét đặc sắc trong quá trình hình thành nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh nói chung, quan niệm của Người về tôn giáo và công tác tôn giáo nói riêng. Trong con người Hồ Chí Minh không phải là phép tính cộng các nền văn hóa dân tộc và nhân loại, mà là sự tổng hòa, đúc kết làm một đề kiến tạo nên tư chất của một danh nhân văn hóa thê giới.
12 Hồ Chí Minh tiếp thu văn hóa phương Đông, chắt lọc những tư tưởng tích cực của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, như yêu thương con người, tu thân dưỡng tính, hành đạo cứu người, đề cao văn hóa, đạo đức, hiếu học,. Hồ Chí Minh có cách nhìn mới mẻ và sâu sắc về phạm trù giải thoát trong học thuyết Phật giáo. Người khang định: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn Người phải hy sinh tranh đấu quyết liệt, diệt lũ ác ma,. Chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi khổ ải nô lệ” [48, 197].
Còn Chúa Giê-su “ chỉ lo cứu thế độ dân, hy sinh cho tự do, bình đăng” [47, 490]. Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh còn được hình thành trên nền tảng kế thừa những tư tưởng tiến bộ khác của văn hóa phương Đông thời kỳ cận đại. Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, Tôn Dật Tiên (1886 - 1925) xây dựng thuyết Tam dân với tuyên ngôn "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc" tại Trung Quốc. Hồ Chí Minh đã đánh giá cao những đóng góp của chủ thuyết Tam dân và khăng định: “Độc lập — tự do — hạnh phúc” là tư tưởng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Văn hóa phương Tây được Hồ Chí Minh tiếp nhận đồng thời với quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác — Lênin, là một phần hết sức quan trọng trong tư tưởng của Người, xét cả về chiều rộng lẫn chiều sâu tư tưởng. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước đã giúp Hồ Chí Minh tiếp cận và chịu ảnh hưởng nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây. Những tư tưởng về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của Mỹ; tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái của các nhà Khai sáng Pháp,.đóng vai trò quan trọng về mặt lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo. Nắm được quy luật hình thành và phát triển của văn hóa, Hồ Chí Minh cho rằng, đã là văn hóa thì phải giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hóa của các dân tộc khác.
Người nói: “Ta phải “giữ cốt cách dân tộc, còn phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, cái gì tốt là phải học lấy để tạo ra nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần túy Việt Nam đề hợp với tinh thần dân chủ”[48, 163]. Tóm lại, Hô Chí Minh tiếp thu tỉnh hoa văn hóa nhân loại một cách có chọn lọc và vận dụng tỉnh hoa đó một cách phù hợp vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, 13 vì mục địch không chỉ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc mình, mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp giải phóng nhân loại. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo và công tác tôn giáo ® Lè bản chất của tôn giáo: Chủ nghĩa Mác- Lênn coi tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.
Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những hiện tượng tự nhiên trở thành lực lượng siêu nhiên. Điều này đã được Ph. Ăngghen khắng định: “Tắt cả mọi tôn giáo chăng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [42, 437]. Khi diễn đạt mối quan hệ của con người với tôn giáo, C.Mác đã dùng các mệnh đề “tôn giáo là thế giới lộn ngược” và “tôn giáo là sự tự ý thức và tự tri giác của con người chưa tìm được bản thân”.
An”? Chính vì thế, tôn giáo chỉ mắt đi khi quan hệ giữa con người với con người và gIữa con người với tự nhiên trở nên hợp lý. Tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau, song lại có quan hệ chặt chẽ mà ranh giới đề phân biệt giữa chúng chỉ là tương đối. Tín ngưỡng là một khái niệm rộng hơn khái niệm tôn giáo, chăng hạn, ngoài tín ngưỡng tôn giáo còn có tín ngưỡng thờ cúng tô tiên. Tín ngưỡng là niềm tin và Sự ngưỡng mộ của con người vào một lực lượng gì đó nói chung.
Nhưng ở đây chúng ta chỉ đề cập đến một dạng tín ngưỡng, đó là tín ngưỡng tôn giáo (mà thường gọi vắn tắt là tôn giáo). Tôn giáo là một cộng đồng tinh thần của những người cùng chung một tín ngưỡng, thống nhất với nhau bởi một hệ thống giáo lý, giáo luật và tô chức giáo hội. Mê tín dị đoan là biểu hiện của sự lạm dụng niềm tin tôn giáo, là niềm tin của con người vào các lực lượng siêu nhiên đến mức độ mê muội, cuồng tín với những hành vi cực đoan, thái quá, phản văn hóa và gây ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của con người và xã hội. Vì vậy, cùng với việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự đo tín ngưỡng của nhân dân thì đồng thời phải loại bỏ mê tín dị đoan nhăm làm lành mạnh hóa đời sông xã hội.
14 Tôn giáo là sản phâm của con người, gắn với những điêu kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội nhất định.