Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số vấn đề lý thuyết 1. Khái niệm Chính sách tôn giáo Ở Việt Nam, khái niệm Chính sách tôn giáo mới được sử dụng trong vòng vài thập niên trở lại đây với sự ra đời của thể chế Dân chủ Cộng hòa vào năm 1945 [248]. Cho nên, nhận thức về chính sách tôn giáo ở nước ta còn khá mới mẻ, cũng như việc xây dựng và hoàn thiện chính sách tôn giáo hướng tới mô hình nhà nước pháp quyền vẫn đang ở giai đoạn đầu.
Trong khi đó, các nước Âu - Mỹ, do ảnh hưởng của trào lưu Triết học Ánh sáng và các cuộc cách mạng tư sản hồi thế kỉ XVIII, đã sớm xây dựng cho mình chính sách tôn giáo phù hợp với điều kiện ở mỗi quốc gia [82, tr. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống bao dung tôn giáo, hay ít ra người ta có thể nói về sự chung sống hòa bình giữa Nho - Phật - Đạo (tam giáo đồng nguyên) trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, từ giữa thế kỉ XIX, vấn đề tôn giáo đã bị thực dân Pháp lợi dụng để xâm lược Việt Nam. Nói cho cùng, dù ít dù nhiều, Công giáo cũng có một phần trách nhiệm trong bi kịch mất nước ta vào tay thực dân Pháp [188, tr.
Điều đó gây ra hệ lụy kép: một mặt, chính bản thân những người Công giáo yêu nước lại rơi vào thế khó xử khi bị quy đồng với bộ phận tín đồ phản quốc, bị thực dân lợi dụng. Mặt khác, nó tạo ra một “thói quen chính trị” trong giới cầm quyền ở Việt Nam khi hoạch định chính sách tôn giáo, nhìn nhận tôn giáo như một vấn đề “nội chính” [83, tr. Chính sách tôn giáo bị đánh đồng với “công tác đánh địch trên mặt trận tôn giáo” [82, tr. “Thói quen” đó ảnh hưởng lâu dài đến việc hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo, khiến các thế lực chống phá cách mạng vin vào để xuyên tạc về tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Trong bối cảnh đổi 1 Việc nhìn nhận chính sách tôn giáo của Việt Nam trong giai đoạn này cần phải đặt vào bối cảnh cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam diễn ra gay gắt, khốc liệt và cuộc chiến tranh ý thức hệ đang lan rộng trên thế giới. [80] 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới và hội nhập hiện nay, khi Việt Nam đang hướng đến xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền thì chính sách tôn giáo cần được xây dựng và hoàn thiện theo hướng một chính sách công. Khái niệm Chính sách công (Public Policy) xuất hiện vào năm 1922 do Charles Merriam khởi xướng, tuy nhiên, công trình công phu đầu tiên về lĩnh vực này là của Harold Lasswell ra đời vào năm 1958 [256, tr. Chính vì tuổi đời của khái niệm Chính sách công còn khá trẻ như vậy, các ngành khoa học khi vận dụng khái niệm này đã đề ra những cách hiểu khác nhau.
Nhà nghiên cứu Thomas A. Birkland chỉ ra 5 cách hiểu về chính sách công trên thế giới hiện nay là: i. Chính sách công chỉ những hành động của chính phủ và những mục đích để xác định các hành động đó; ii. Chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong nội bộ chính phủ nhằm xác định ai sẽ được gì; iii.
Chính sách công là những gì chính phủ lựa chọn làm hoặc không làm; iv. Chính sách công bao gồm những quyết định chính trị của các chương trình để đạt được các mục tiêu xã hội; v. Một cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng thể các hoạt động của chính phủ, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều có tác động lên đời sống của công dân.8] Tại Việt Nam, việc nghiên cứu chính sách công được khởi động vào cuối thập niên 1990 khi đất nước đang chuyển mình tích cực hơn trên con đường hội nhập với thế giới. Một trong những công trình nghiên cứu sớm về chính sách công ở Việt Nam là tác phẩm Chính sách công của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 1999.
Trong công trình này, các tác giả sau khi tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của thế giới về chính sách công, đã chỉ ra 7 đặc trưng của khái niệm này như sau: i. Chính sách công là một quá trình hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Việc giải quyết những vấn đề đó nhằm vào những mục tiêu mà nhà nước mong muốn đạt được.
Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà nước, mà còn bao gồm cả những hành vi thực hiện các dự định đó. Xét theo nghĩa rộng, chính sách công bao gồm những việc nhà nước định làm và không định làm. Điều đó có nghĩa không phải mọi mục tiêu của chính sách công đều dẫn tới hành động, mà nó có thể là yêu cầu chủ thể không hành động. Chính sách công là một quá trình do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia.
Chính sách công được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của nhiều người hoặc quốc gia. Chính sách công có phạm vi tác động rất rộng và có khuynh hướng ngày càng bao quát đầy đủ hơn các khía cạnh trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.8-10] Tóm lại, khái niệm chính sách công là một chương trình hành động của chính phủ nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong xã hội theo một mục tiêu nhất định, phù hợp với nhu cầu nhân dân và bản chất chính trị của chế độ. So với cách hiểu truyền thống về khái niệm chính sách, tức những văn bản pháp lý, mang tính ràng buộc do chính quyền các cấp ban hành, thì khái niệm chính sách công trong nghiên cứu này không chỉ bao hàm những dự định của chính phủ, mà còn cả những hành động để thực hiện hoặc không thực hiện các dự định đó. Khái niệm chính sách tôn giáo ở đây cũng được hiểu theo hướng trên.
Trong lịch sử, các triều đại quân chủ ở Việt Nam và nhiều quốc gia Đông Nam Á khác hầu như không đặt ra vấn đề nhận thức về chính sách công. Bởi lẽ, trong mô hình nhà nước lúc bấy giờ, thần quyền và thế quyền đều tập trung vào tay nhà vua: vua vừa là người nắm quyền lực cao nhất, vừa là nhà tư tế lớn nhất. Vua ban phát bổng lộc, địa vị cho giới tăng lữ, hoặc thải hồi, trừng phạt khi họ vi phạm pháp luật. Người dân không thể hoài nghi (bất khả tư nghị) quyết định của vua.
Thời Lý - 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần, Phật giáo chưa thể đạt đến quốc giáo theo nghĩa đen của từ này. Thời Lê, đặc biệt là khi chế độ quân chủ phát triển đến đỉnh cao như nhà Nguyễn, Nho giáo chiếm địa vị độc tôn trong hệ tư tưởng của nhà nước, nhưng bản thân Nho giáo không hẳn là một tôn giáo đúng nghĩa, và trong cơ tầng xã hội nông thôn Việt Nam, Phật giáo và Đạo giáo vẫn đóng vai trò chủ đạo. “Chính sách tôn giáo”, do vậy, chỉ là những điều khoản tản mạn, nằm xen kẽ cùng các điều luật khác trong các bộ luật của nhà nước Việt Nam lúc bấy giờ (luật Hồng Đức, luật Gia Long) [76; 77, tr. Vì vậy, có thể nói, Việt Nam vốn không có truyền thống lập pháp tôn giáo.
Nhận thức mới về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam do những người cộng sản chủ trương. Có thể nói, trong bối cảnh tư duy của phần lớn giới mác-xít trên thế giới đang bị chi phối bởi luận điểm “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, thì nhận thức về vấn đề tôn giáo của Đảng Cộng sản Đông Dương là rất sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam [77, tr. Điều đó cũng phần nào xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đang cần phải đoàn kết mọi lực lượng trong nước để thực hiện nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu đó là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc. Cho nên, thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng 8/1945 là thắng lợi của khối đại đoàn kết dân tộc, lương cũng như giáo, góp phần gột rửa những tự ti, mặc cảm của người Công giáo Việt Nam do cái ách “thực dân trong đạo” để lại [81].
Điều đó một lần nữa được thể hiện qua lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ VNDCCH ngày 3/9/1945: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết” [102, tr.17], cũng như trong bản Hiến pháp đầu tiên (1946) của Việt Nam. Việc lựa chọn mô hình nhà nước Dân chủ của Việt Nam vào năm 1945, bên cạnh những ý nghĩa lịch sử to lớn của nó, còn là sự lựa chọn mô hình nhà nước thế tục đầu tiên ở Đông Nam Á2. Mặc dù việc xây dựng và hoàn thiện mô hình này còn 2 Nhà nghiên cứu J.
Bauberot đã tổng kết 4 mô hình nhà nước thế tục khả thi sau: 1. Mô hình nhà nước dân tộc - tôn giáo (Ethno-Religion): phổ biến ở các nước Bắc Âu với Tin Lành; Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Công giáo; Hi Lạp với Chính Thống giáo. Ở những nước này, nhà 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải trải qua quá trình lâu dài và phức tạp, nhưng nó là xuất phát điểm đúng hướng, là bước dặm nhảy quan trọng cho Việt Nam trên con đường giải quyết vấn đề tôn giáo và hoàn thiện luật pháp tôn giáo. Như vậy, chính sách tôn giáo được xây dựng và hoàn thiện theo hướng một chính sách công nên được hiểu như thế nào? Trước hết, chính sách tôn giáo là một chương trình hành động của Nhà nước dùng để giải quyết vấn đề tôn giáo, cơ bản là giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với giáo hội [82, tr.
Hay nói cách khác, chính sách tôn giáo là một bộ phận của chính sách xã hội3 (hay một chính sách xã hội đặc biệt trong lĩnh vực tôn giáo) dùng để giải quyết các vấn đề tôn giáo dựa trên quan điểm của chủ thể lãnh đạo, phù hợp bản chất chế độ chính trị và nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng về tôn giáo của nhân dân. Dĩ nhiên, trong chính sách tôn giáo, việc giải quyết rạch ròi mối quan hệ giữa “cái tôn giáo” (phần hồn thong dong) với “cái xã hội” (phần xác no ấm) chưa bao giờ dễ dàng [83, tr.