Chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên giai đoạn 1954-1975

Luận án tiến sĩ phân tích chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên giai đoạn 1954-1975, khám phá tác động và hệ lụy.

Chuyên ngành

Lịch Sử Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2018

227
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Một số vấn đề lý thuyết

1.2. Khái niệm Chính sách tôn giáo

1.3. Khái niệm Chính sách tôn giáo vùng

1.4. Các công trình nghiên cứu về chính sách tôn giáo

1.5. Các công trình nghiên cứu về bối cảnh lịch sử Tây Nguyên (1954-1975)

1.6. Các công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng ở Tây Nguyên

1.7. Những thành tựu đã đạt được và những vấn đề cần giải quyết

1.8. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH LỊCH SỬ, TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG TÂY NGUYÊN TRƯỚC NĂM 1954

2.1. Bối cảnh Tây Nguyên trước 1954

2.2. Chính sách tôn giáo của thực dân Pháp tại Tây Nguyên

2.3. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Tây Nguyên

2.4. Tín ngưỡng truyền thống

2.5. Phật giáo và Cao Đài

2.6. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN TẠI TÂY NGUYÊN TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1963

3.1. Bối cảnh miền Nam Việt Nam và Tây Nguyên (1954-1963)

3.2. Những nội dung chủ yếu trong chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên từ năm 1954 đến năm 1963

3.3. Chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên với mô hình nhà nước thế tục

3.4. Chính sách tôn giáo với vấn đề chính trị tại Tây Nguyên

3.5. Chính sách tôn giáo với việc quản lý tôn giáo tại Tây Nguyên

3.6. Chính sách tôn giáo với tín ngưỡng truyền thống của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

3.7. Phản ứng đối với chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên (1954-1963)

3.8. Phản ứng của các giáo hội và các tầng lớp nhân dân

3.9. Phản ứng của giới thủ lĩnh Thượng

3.10. Phản ứng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

3.11. Tiểu kết Chương 3

4. CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN TẠI TÂY NGUYÊN TỪ NĂM 1964 ĐẾN NĂM 1975

4.1. Bối cảnh miền Nam Việt Nam và Tây Nguyên (1964-1975)

4.2. Chuyển biến trong chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên từ năm 1964 đến năm 1975

4.3. Những điều chỉnh trong mô hình nhà nước thế tục hậu Ngô Đình Diệm

4.4. Chính sách tôn giáo với vấn đề chính trị tại Tây Nguyên

4.5. Chính sách tôn giáo với quản lý tôn giáo tại Tây Nguyên (1964-1975)

4.6. Chính sách tôn giáo với tín ngưỡng truyền thống của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên (1964-1975)

4.7. Phản ứng đối với chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên (1964-1975)

4.8. Phản ứng của các giáo hội và các tầng lớp nhân dân

4.9. Phản ứng của giới thủ lĩnh Thượng

4.10. Phản ứng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

4.11. Tiểu kết Chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên 1954 1975

Chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên trong giai đoạn 1954-1975 là một chủ đề phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các yếu tố chính trị, xã hội và văn hóa. Tây Nguyên, với sự đa dạng về tôn giáo và tín ngưỡng, đã trở thành một điểm nóng trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Chính quyền Sài Gòn đã áp dụng nhiều chính sách nhằm kiểm soát và điều tiết các hoạt động tôn giáo, từ đó ảnh hưởng đến đời sống của người dân nơi đây. Việc nghiên cứu chính sách này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử mà còn cung cấp những bài học quý giá cho việc xây dựng chính sách tôn giáo hiện nay.

1.1. Bối cảnh lịch sử và tôn giáo tại Tây Nguyên trước năm 1954

Trước năm 1954, Tây Nguyên là vùng đất có sự giao thoa giữa các tôn giáo truyền thống và tôn giáo ngoại nhập. Chính sách tôn giáo của thực dân Pháp đã tạo ra những biến động lớn trong đời sống tín ngưỡng của người dân. Các tôn giáo như Phật giáo, Công giáo và tín ngưỡng truyền thống đã tồn tại song song, nhưng cũng chịu nhiều áp lực từ chính quyền thực dân. Sự chuyển mình của tôn giáo tại Tây Nguyên đã đặt ra nhiều thách thức cho chính quyền Sài Gòn sau này.

1.2. Đặc điểm chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn

Chính quyền Sài Gòn đã áp dụng nhiều chính sách tôn giáo khác nhau nhằm kiểm soát và điều tiết các hoạt động tôn giáo tại Tây Nguyên. Những chính sách này thường mang tính chất phân biệt, ưu ái cho một số tôn giáo nhất định, trong khi lại hạn chế quyền tự do tôn giáo của các tôn giáo khác. Điều này đã dẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ từ các giáo hội và cộng đồng tín đồ, tạo ra những xung đột trong xã hội.

II. Những thách thức trong chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên 1954 1975

Chính quyền Sài Gòn đã phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực thi chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên. Sự đa dạng về tôn giáo và tín ngưỡng, cùng với những biến động chính trị, đã tạo ra một môi trường phức tạp. Các chính sách tôn giáo không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người dân mà còn tác động đến an ninh chính trị và xã hội. Việc hiểu rõ những thách thức này là cần thiết để đánh giá hiệu quả của chính sách tôn giáo trong giai đoạn này.

2.1. Sự phản kháng từ các giáo hội và cộng đồng tín đồ

Nhiều giáo hội và cộng đồng tín đồ đã phản kháng lại các chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn. Họ đã tổ chức các cuộc biểu tình, kiến nghị và thậm chí là các hoạt động đấu tranh nhằm bảo vệ quyền lợi tôn giáo của mình. Những phản ứng này không chỉ thể hiện sự bất mãn mà còn cho thấy sự gắn bó sâu sắc của người dân với tín ngưỡng của họ.

2.2. Tác động của chính trị đến chính sách tôn giáo

Chính trị đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và thực thi chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên. Sự can thiệp của các thế lực bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, đã làm thay đổi cách thức mà chính quyền Sài Gòn tiếp cận vấn đề tôn giáo. Điều này dẫn đến những điều chỉnh trong chính sách, từ đó tạo ra những xung đột mới trong xã hội.

III. Phương pháp thực hiện chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên

Chính quyền Sài Gòn đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để thực hiện chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên. Những phương pháp này không chỉ bao gồm việc ban hành các văn bản pháp lý mà còn liên quan đến việc quản lý và giám sát các hoạt động tôn giáo. Sự kết hợp giữa các phương pháp này đã tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tôn giáo của người dân.

3.1. Ban hành văn bản pháp lý về tôn giáo

Chính quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm quy định và quản lý các hoạt động tôn giáo. Những văn bản này thường chứa đựng các điều khoản liên quan đến quyền tự do tôn giáo, nhưng thực tế lại bị áp dụng một cách phân biệt. Việc này đã dẫn đến sự bất bình trong cộng đồng tín đồ và tạo ra những xung đột không đáng có.

3.2. Quản lý và giám sát hoạt động tôn giáo

Chính quyền Sài Gòn đã thiết lập các cơ quan để quản lý và giám sát các hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, sự can thiệp của chính quyền vào các hoạt động tôn giáo đã gây ra nhiều phản ứng từ phía các giáo hội. Điều này cho thấy sự mâu thuẫn giữa quyền lực nhà nước và quyền tự do tôn giáo của người dân.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về chính sách tôn giáo

Nghiên cứu về chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử mà còn cung cấp những bài học quý giá cho việc xây dựng chính sách tôn giáo hiện nay. Những kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải có một chính sách tôn giáo công bằng và hợp lý, nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả các tôn giáo và tín ngưỡng.

4.1. Bài học từ chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn

Chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn đã để lại nhiều bài học quý giá cho việc xây dựng chính sách tôn giáo hiện nay. Việc áp dụng các chính sách phân biệt đã dẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ từ cộng đồng tín đồ, cho thấy rằng sự công bằng và tôn trọng quyền tự do tôn giáo là rất quan trọng.

4.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc hiểu rõ bối cảnh lịch sử và các chính sách tôn giáo trước đây có thể giúp các nhà hoạch định chính sách hiện nay xây dựng một hệ thống pháp luật tôn giáo công bằng và hiệu quả hơn. Điều này không chỉ đảm bảo quyền lợi của người dân mà còn góp phần vào sự ổn định chính trị và xã hội.

V. Kết luận và tương lai của chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên

Chính sách tôn giáo của chính quyền Sài Gòn tại Tây Nguyên trong giai đoạn 1954-1975 đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử. Việc nghiên cứu chính sách này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh lịch sử mà còn cung cấp những bài học quý giá cho việc xây dựng chính sách tôn giáo hiện nay. Tương lai của chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên cần phải được xây dựng trên nền tảng của sự công bằng và tôn trọng quyền tự do tôn giáo.

5.1. Tương lai của chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên

Tương lai của chính sách tôn giáo tại Tây Nguyên cần phải được xây dựng dựa trên sự tôn trọng quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng của người dân. Việc này không chỉ giúp đảm bảo quyền lợi của các tôn giáo mà còn góp phần vào sự ổn định chính trị và xã hội trong khu vực.

5.2. Đề xuất cho chính sách tôn giáo hiện nay

Để xây dựng một chính sách tôn giáo hiệu quả, cần phải tham khảo kinh nghiệm từ các chính quyền trước đây, đồng thời lắng nghe ý kiến của cộng đồng tín đồ. Việc này sẽ giúp tạo ra một môi trường tôn giáo hòa bình và ổn định, góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ chính sách tôn giáo của chính quyền sài gòn tại tây nguyên 1954 1975

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số vấn đề lý thuyết 1. Khái niệm Chính sách tôn giáo Ở Việt Nam, khái niệm Chính sách tôn giáo mới được sử dụng trong vòng vài thập niên trở lại đây với sự ra đời của thể chế Dân chủ Cộng hòa vào năm 1945 [248]. Cho nên, nhận thức về chính sách tôn giáo ở nước ta còn khá mới mẻ, cũng như việc xây dựng và hoàn thiện chính sách tôn giáo hướng tới mô hình nhà nước pháp quyền vẫn đang ở giai đoạn đầu.

Trong khi đó, các nước Âu - Mỹ, do ảnh hưởng của trào lưu Triết học Ánh sáng và các cuộc cách mạng tư sản hồi thế kỉ XVIII, đã sớm xây dựng cho mình chính sách tôn giáo phù hợp với điều kiện ở mỗi quốc gia [82, tr. Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống bao dung tôn giáo, hay ít ra người ta có thể nói về sự chung sống hòa bình giữa Nho - Phật - Đạo (tam giáo đồng nguyên) trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, từ giữa thế kỉ XIX, vấn đề tôn giáo đã bị thực dân Pháp lợi dụng để xâm lược Việt Nam. Nói cho cùng, dù ít dù nhiều, Công giáo cũng có một phần trách nhiệm trong bi kịch mất nước ta vào tay thực dân Pháp [188, tr.

Điều đó gây ra hệ lụy kép: một mặt, chính bản thân những người Công giáo yêu nước lại rơi vào thế khó xử khi bị quy đồng với bộ phận tín đồ phản quốc, bị thực dân lợi dụng. Mặt khác, nó tạo ra một “thói quen chính trị” trong giới cầm quyền ở Việt Nam khi hoạch định chính sách tôn giáo, nhìn nhận tôn giáo như một vấn đề “nội chính” [83, tr. Chính sách tôn giáo bị đánh đồng với “công tác đánh địch trên mặt trận tôn giáo” [82, tr. “Thói quen” đó ảnh hưởng lâu dài đến việc hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo, khiến các thế lực chống phá cách mạng vin vào để xuyên tạc về tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Trong bối cảnh đổi 1 Việc nhìn nhận chính sách tôn giáo của Việt Nam trong giai đoạn này cần phải đặt vào bối cảnh cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam diễn ra gay gắt, khốc liệt và cuộc chiến tranh ý thức hệ đang lan rộng trên thế giới. [80] 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới và hội nhập hiện nay, khi Việt Nam đang hướng đến xây dựng mô hình nhà nước pháp quyền thì chính sách tôn giáo cần được xây dựng và hoàn thiện theo hướng một chính sách công. Khái niệm Chính sách công (Public Policy) xuất hiện vào năm 1922 do Charles Merriam khởi xướng, tuy nhiên, công trình công phu đầu tiên về lĩnh vực này là của Harold Lasswell ra đời vào năm 1958 [256, tr. Chính vì tuổi đời của khái niệm Chính sách công còn khá trẻ như vậy, các ngành khoa học khi vận dụng khái niệm này đã đề ra những cách hiểu khác nhau.

Nhà nghiên cứu Thomas A. Birkland chỉ ra 5 cách hiểu về chính sách công trên thế giới hiện nay là: i. Chính sách công chỉ những hành động của chính phủ và những mục đích để xác định các hành động đó; ii. Chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong nội bộ chính phủ nhằm xác định ai sẽ được gì; iii.

Chính sách công là những gì chính phủ lựa chọn làm hoặc không làm; iv. Chính sách công bao gồm những quyết định chính trị của các chương trình để đạt được các mục tiêu xã hội; v. Một cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng thể các hoạt động của chính phủ, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều có tác động lên đời sống của công dân.8] Tại Việt Nam, việc nghiên cứu chính sách công được khởi động vào cuối thập niên 1990 khi đất nước đang chuyển mình tích cực hơn trên con đường hội nhập với thế giới. Một trong những công trình nghiên cứu sớm về chính sách công ở Việt Nam là tác phẩm Chính sách công của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 1999.

Trong công trình này, các tác giả sau khi tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của thế giới về chính sách công, đã chỉ ra 7 đặc trưng của khái niệm này như sau: i. Chính sách công là một quá trình hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Việc giải quyết những vấn đề đó nhằm vào những mục tiêu mà nhà nước mong muốn đạt được.

Chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà nước, mà còn bao gồm cả những hành vi thực hiện các dự định đó. Xét theo nghĩa rộng, chính sách công bao gồm những việc nhà nước định làm và không định làm. Điều đó có nghĩa không phải mọi mục tiêu của chính sách công đều dẫn tới hành động, mà nó có thể là yêu cầu chủ thể không hành động. Chính sách công là một quá trình do nhiều người, nhiều tổ chức tham gia.

Chính sách công được nhà nước đề ra nhằm phục vụ lợi ích chung của nhiều người hoặc quốc gia. Chính sách công có phạm vi tác động rất rộng và có khuynh hướng ngày càng bao quát đầy đủ hơn các khía cạnh trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước.8-10] Tóm lại, khái niệm chính sách công là một chương trình hành động của chính phủ nhằm giải quyết một vấn đề nào đó trong xã hội theo một mục tiêu nhất định, phù hợp với nhu cầu nhân dân và bản chất chính trị của chế độ. So với cách hiểu truyền thống về khái niệm chính sách, tức những văn bản pháp lý, mang tính ràng buộc do chính quyền các cấp ban hành, thì khái niệm chính sách công trong nghiên cứu này không chỉ bao hàm những dự định của chính phủ, mà còn cả những hành động để thực hiện hoặc không thực hiện các dự định đó. Khái niệm chính sách tôn giáo ở đây cũng được hiểu theo hướng trên.

Trong lịch sử, các triều đại quân chủ ở Việt Nam và nhiều quốc gia Đông Nam Á khác hầu như không đặt ra vấn đề nhận thức về chính sách công. Bởi lẽ, trong mô hình nhà nước lúc bấy giờ, thần quyền và thế quyền đều tập trung vào tay nhà vua: vua vừa là người nắm quyền lực cao nhất, vừa là nhà tư tế lớn nhất. Vua ban phát bổng lộc, địa vị cho giới tăng lữ, hoặc thải hồi, trừng phạt khi họ vi phạm pháp luật. Người dân không thể hoài nghi (bất khả tư nghị) quyết định của vua.

Thời Lý - 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trần, Phật giáo chưa thể đạt đến quốc giáo theo nghĩa đen của từ này. Thời Lê, đặc biệt là khi chế độ quân chủ phát triển đến đỉnh cao như nhà Nguyễn, Nho giáo chiếm địa vị độc tôn trong hệ tư tưởng của nhà nước, nhưng bản thân Nho giáo không hẳn là một tôn giáo đúng nghĩa, và trong cơ tầng xã hội nông thôn Việt Nam, Phật giáo và Đạo giáo vẫn đóng vai trò chủ đạo. “Chính sách tôn giáo”, do vậy, chỉ là những điều khoản tản mạn, nằm xen kẽ cùng các điều luật khác trong các bộ luật của nhà nước Việt Nam lúc bấy giờ (luật Hồng Đức, luật Gia Long) [76; 77, tr. Vì vậy, có thể nói, Việt Nam vốn không có truyền thống lập pháp tôn giáo.

Nhận thức mới về vấn đề tôn giáo ở Việt Nam do những người cộng sản chủ trương. Có thể nói, trong bối cảnh tư duy của phần lớn giới mác-xít trên thế giới đang bị chi phối bởi luận điểm “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, thì nhận thức về vấn đề tôn giáo của Đảng Cộng sản Đông Dương là rất sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam [77, tr. Điều đó cũng phần nào xuất phát từ thực tiễn Việt Nam đang cần phải đoàn kết mọi lực lượng trong nước để thực hiện nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu đó là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giải phóng dân tộc. Cho nên, thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng 8/1945 là thắng lợi của khối đại đoàn kết dân tộc, lương cũng như giáo, góp phần gột rửa những tự ti, mặc cảm của người Công giáo Việt Nam do cái ách “thực dân trong đạo” để lại [81].

Điều đó một lần nữa được thể hiện qua lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ VNDCCH ngày 3/9/1945: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết” [102, tr.17], cũng như trong bản Hiến pháp đầu tiên (1946) của Việt Nam. Việc lựa chọn mô hình nhà nước Dân chủ của Việt Nam vào năm 1945, bên cạnh những ý nghĩa lịch sử to lớn của nó, còn là sự lựa chọn mô hình nhà nước thế tục đầu tiên ở Đông Nam Á2. Mặc dù việc xây dựng và hoàn thiện mô hình này còn 2 Nhà nghiên cứu J.

Bauberot đã tổng kết 4 mô hình nhà nước thế tục khả thi sau: 1. Mô hình nhà nước dân tộc - tôn giáo (Ethno-Religion): phổ biến ở các nước Bắc Âu với Tin Lành; Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Công giáo; Hi Lạp với Chính Thống giáo. Ở những nước này, nhà 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phải trải qua quá trình lâu dài và phức tạp, nhưng nó là xuất phát điểm đúng hướng, là bước dặm nhảy quan trọng cho Việt Nam trên con đường giải quyết vấn đề tôn giáo và hoàn thiện luật pháp tôn giáo. Như vậy, chính sách tôn giáo được xây dựng và hoàn thiện theo hướng một chính sách công nên được hiểu như thế nào? Trước hết, chính sách tôn giáo là một chương trình hành động của Nhà nước dùng để giải quyết vấn đề tôn giáo, cơ bản là giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với giáo hội [82, tr.

Hay nói cách khác, chính sách tôn giáo là một bộ phận của chính sách xã hội3 (hay một chính sách xã hội đặc biệt trong lĩnh vực tôn giáo) dùng để giải quyết các vấn đề tôn giáo dựa trên quan điểm của chủ thể lãnh đạo, phù hợp bản chất chế độ chính trị và nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng về tôn giáo của nhân dân. Dĩ nhiên, trong chính sách tôn giáo, việc giải quyết rạch ròi mối quan hệ giữa “cái tôn giáo” (phần hồn thong dong) với “cái xã hội” (phần xác no ấm) chưa bao giờ dễ dàng [83, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ