chương 1), hai chử số sau (02) là mã hiệu xác định vị trí cuả nhóm đó trong chương (nhóm thứ 2 cuả chương). - Mỗi phân nhóm hàng trong nhóm được xác định bằng 6 chử số. Có hai cách phân loại và mã hiệu cho các phân nhóm hàng, gọi l;à phân nhóm cấp 1 và phân nhóm cấp 2. - Một số nhóm hàng không được phân chia thành nhiều phân nhóm hàng khác nhau thì sẽ được thêm hai chử số 00 vào sau cùng.
- Một số phân nhóm hàng trong biểu thuế được phân chia tiếp thành nhiều mặt hàng khác nhau. Mỗi mặt hàng trong phân nhóm được xác định bằng 8 chử số. - Tuy nhiên cũng có một số trường hợp các phân nhóm hàng được phân chia tiếp thành nhiều mặt hàng khác nhau nhưng không xác định mã số cho chúng. Theo cách sắp xếp danh mục và mã số cuả nhóm hàng, phân nhóm hàng, mặt hàng nói trên thì biểu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành được phân thành 3 cột, trong đó: - Cột thứ nhất là cột mã số của nhóm hàng, phân nhóm hàng và mặt hàng.
- Cột thứ hai là cột mô tả tên nhóm hàng, phân nhóm hàng và mặt hàng. - Cột thứ 3 là cột quy định mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho nhóm hàng; hoặc cho phân nhóm hàng; hoặc cho mặt hàng. Do đó khi tra cứu mã số và mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cuả một mặt hàng cụ thể nào đó cần xem nhóm hàng và mặt hàng này nằm trong đó được chia chi tiết đến mức độ nào: Nhóm , phân nhóm cấp 1, phân nhóm cấp 2 hay mặt hàng để xác định chính xác mức thuế cuả mặt hàng này trong biểu thuế. Vũ Thị Hợp Luật kinh doanh 45 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9 Khoa Luật II.
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU: 1. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch 1987: Luật có hiệu lực thi hành từ 01/2/1988. Trong luật quy định hàng hóa bị đánh thuế là hàng mậu dịch. - Thuế được áp dụng với tất cả hàng hoá mua bán, trao đổi với nước ngoài khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biên giới Việt Nam (trừ hàng hoá xuất, nhập khẩu có sự thoả thuận riêng về thuế xuất nhập khẩu giữa Chính phủ Việt Nam với các nước khác).
- Tất cả các tổ chức kinh tế được phép xuất nhập khẩu hàng hoá đều phải nộp thuế xuất, nhập khẩu hàng mậu dịch. - Giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu đi, theo hợp đồng; đối với hàng hoá nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu đến, kể cả phí vận tải, phí bảo hiểm theo hợp đồng. Trong trường hợp mua hoặc bán theo các phương thức khác thì căn cứ vào giá ghi trên các chứng từ hợp lệ. Tỷ giá giữa đồng Việt nam với tiền nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước Việt nam công bố.
- Thuế suất đối với hàng xuất khẩu hoặc nhập khẩu được áp dụng theo hai mức ghi trong hai cột: thuế suất tối thiểu và thuế suất phổ thông - Thuế suất tối thiểu áp dụng với hàng hoá xuất khẩu hoặc nhập khẩu liên quan đến các nước có ký kết điều khoản ưu đãi trong quan hệ buôn bán với Việt Nam và những trường hợp khác do Hội đồng Bộ trưởng quy định. Thuế suất phổ thông áp dụng với hàng hoá xuất nhập khẩu qua các nước khác, ngoài những trường hợp ghi trên đây. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991: - Danh mục các nhóm hàng, mặt hàng trong biểu thuế XNK được xây dựng dựa trên hệ thống danh mục hàng hoá và mã hoá thống nhất của Hội đồng hợp tác Hải quan quốc tế (ký tại Bruxelles ngày 19-6-1983) gồm 97 chương và hơn hai nghìn nhóm ngành hàng. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho ta từng bước Vũ Thị Hợp Luật kinh doanh 45 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 10 Khoa Luật hoà nhập vào quá trình hợp tác quốc tế về thuế quan và mậu dịch, khắc phục những tồn tại đã gặp khi áp dụng danh mục cũ theo khối SEV quá đơn giản.
- Biểu thuế gồm 2 cột: thuế suất thông thường và thuế suất ưu đãi, tương tự như cột thuế suất phổ thông và cột thuế suất tối thiểu trong biểu thuế XNK mậu dịch cũ. Tuy nhiên, có điểm khác là ở luật cũ, 2 loại thuế suất này đều được ghi trong biểu thuế; ở Luật mới, trong biểu thuế chỉ ghi thuế suất thông thường, còn thuế suất ưu đãi là thuế suất áp dụng đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đối với các nước có ký kết điều khoản ưu đãi trong quan hệ mua bán với Việt nam và những trường hợp khác do Hội đồng Bộ trưởng quyết định (Ví dụ trường hợp không có ký kết nhưng Chính phủ ta đơn phương cho một nước nào đó được hưởng mức thuế ưu đãi này trong quan hệ buôn bán với ta). Theo Nghị định số 110-HĐBT ngày 31/3/1992 thì thuế suất ưu đãi được áp dụng thống nhất bằng 70% thuế suất thông thường ghi trong biểu thuế. Các trường hợp áp dụng thuế suất ưu đãi khác với quy định trên sẽ do Hội đồng Bộ trưởng quyết định cụ thể theo đề nghị của Bộ Tài chính và các Bộ có liên quan.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1993: Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1993 không có những thay đổi lớn về mặt chính sách mà chỉ có những sửa đổi bổ sung một số điều. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1998: Việc áp dụng Luật thuế giá trị gia tăng (bắt đầu từ 1/1/1999) cả đối với hàng nhập khẩu đòi hỏi Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (thuế XNK) phải được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính đồng bộ trong các chính sách thuế áp dụng đối với hàng nhập khẩu, không ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Đồng thời phải phát huy tác dụng của thuế xuất khẩu, nhập khẩu khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước theo tinh thần bảo hộ có chọn lọc, có điều kiện, có thời hạn, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế. Mặt khác, Việt nam đã là thành viên của ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dịch tự do của ASEAN (AFTA), đã ký Hiệp định thương mại với Liên Vũ Thị Hợp Luật kinh doanh 45 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11 Khoa Luật hiệp Châu âu, chuẩn bị trở thành thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC) và chuẩn bị điều kiện gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)- Hoàn cảnh đó đòi hỏi Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu của ta phải có những sửa đổi, bổ sung để tạo ra những cơ sở pháp lý cần thiết cho việc thực hiện những cam kết quốc tế, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia.
- Thuế suất mới đối với hàng nhập khẩu gồm thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt: + Thuế suất thông thường áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước không có thoả thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt nam: Thuế suất thông thường được quy định cao hơn không quá 70% so với thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng, do Chính phủ quy định; + Thuế suất ưu đãi áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước có thoả thuận đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại với Việt Nam. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định biểu thuế theo danh mục, nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất đối với từng nhóm hàng. Căn cứ vào Biểu thuế do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành, Chính phủ quy định Biểu thuế theo danh mục mặt hàng và thuế suất cụ thể đối với từng mặt hàng; + Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu có xuất xứ từ nước mà Việt nam và nước đó đã có thoả thuận ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu. Chính phủ quy định thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với từng mặt hàng theo thoả thuận đã được ký kết với các nước.
Ngoài việc nộp thuế theo quy định trên, đơn vị có hàng hoá được nhập khẩu vào Việt nam trong các trường hợp sau đây còn phải nộp thêm thuế nhập khẩu bổ sung theo tỷ lệ do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định: + Giá bán của hàng đó quá thấp so với giá thông thường do bán phá giá, gây khó khăn cho sự phát triển ngành sản xuất hàng hoá tương tự của Việt nam; + Giá bán của hàng đó quá thấp so với giá thông thường do có sự trợ cấp của nước xuất khẩu, gây khó khăn cho sự phát triển ngành sản xuất hàng hoá tương tự của Việt nam; Vũ Thị Hợp Luật kinh doanh 45 Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 12 Khoa Luật + Có xuất xứ từ nước có sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu hoặc có những biện pháp phân biệt đôí xử khác đối với hàng hoá của Việt nam. - Luật sửa đổi, bổ sung về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn quy định thêm một số nguyên tắc, thẩm quyền của cơ quan thuế về kiểm tra, truy thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu nếu phát hiện có sự khai man, trốn thuế hoặc nhầm lẫn trong việc tính thuế để có căn cứ pháp lý giải quyết trường hợp sau khi thu, nộp thuế xong mới phát hiện khai man, trốn thuế, nhầm lẫn về thuế, một vướng mắc thường phát sinh vì chưa có qui định rõ ràng, đầy đủ trong Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu trước đây. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005: Một trong những nội dung quan trọng nằm trong dự án sửa đổi lần này là về thời hạn nộp thuế. Tại Khoản 3, Điều 17 của Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu hiện hành quy định cho phép doanh nghiệp được hưởng một thời gian ân hạn thuế nhất định là 15 ngày, 30 ngày hoặc 275 ngày sau khi xuất, nhập khẩu hàng hóa, tùy theo tính chất vào loại hình xuất, nhập khẩu.
Chỉ riêng đối với loại hàng tiêu dùng nhập khẩu thì phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng. Các quy định trên đã có tác dụng tích cực, giảm bớt khó khăn về vốn, giúp các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất nhập khẩu và phát triển sản xuất, kinh doanh. Đối với quy định về thông báo thuế, dự án Luật sửa đổi đề nghị bỏ thông báo thuế, thay vào đó đối tượng nộp thuế sẽ thực hiện nghĩa vụ thuế của mình trên cơ sở căn cứ vào tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.