Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc đổi mới kinh tế và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sau hơn hai thập kỷ chuyển đổi. Trong bối cảnh Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chính sách thuế xuất nhập khẩu đứng trước yêu cầu phải cải cách toàn diện. Thuế quan là một trong những công cụ pháp lý và kinh tế quan trọng, chịu tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất từ các cam kết cắt giảm thuế quan quốc tế, vừa có vai trò bảo hộ có chọn lọc sản xuất nội địa, vừa nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Từ giác độ thực tiễn của một sinh viên chuyên ngành Luật kinh doanh, việc phân tích sự tương tác giữa các quy định pháp luật thuế xuất nhập khẩu và hoạt động kinh doanh thực tế tại doanh nghiệp là yêu cầu mang tính cấp thiết. Tác giả lựa chọn Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera làm cơ sở khảo sát thực tế.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm ba nội dung chính:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, lược sử phát triển pháp luật thuế quan của Việt Nam và phân tích các cam kết cắt giảm thuế quan khi gia nhập WTO.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy, năng lực tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình thực hiện pháp luật thuế xuất nhập khẩu tại Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera.
  3. Đề xuất các nhóm biện pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu của công ty dưới góc độ vận dụng chính sách và pháp luật thuế xuất nhập khẩu.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Việt Nam và thực tiễn thực hiện nghĩa vụ thuế tại doanh nghiệp.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Hoạt động của Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera (TRADIMEX), trụ sở tại số 2 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội.
    • Về thời gian: Khảo sát số liệu hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn vốn và lao động giai đoạn 2002 – 2005; các định hướng, kế hoạch phát triển giai đoạn 2006 – 2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của nghiên cứu dựa trên hệ thống các quy phạm pháp luật thuế xuất nhập khẩu của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ, trọng tâm là:

  • Sắc lệnh thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1951.
  • Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch năm 1987.
  • Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1991, Luật sửa đổi, bổ sung năm 1993, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1998 (áp dụng đồng bộ với Luật Thuế giá trị gia tăng năm 1999).
  • Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 (được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/06/2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006).
  • Danh mục biểu thuế hài hòa (HS – Harmonized System) của Hội đồng Hợp tác Hải quan Thế giới gồm 21 phần, 97 chương.
  • Các cam kết cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ Hiệp định Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Công nghệ Thông tin (ITA) và các cam kết đa phương gia nhập WTO.

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm pháp luật: Rà soát, đối chiếu các điều khoản pháp lý về đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, thuế suất, thời hạn nộp thuế, miễn, giảm, hoàn, truy thu thuế và thẩm quyền của cơ quan hải quan.
  • Phương pháp thống kê, phân tích số liệu tài chính: Sử dụng số liệu từ Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo nhân sự giai đoạn 2002 – 2005 của Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera để đánh giá biến động vốn, doanh thu, lợi nhuận và nghĩa vụ nộp ngân sách.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các văn bản luật, nghị định của Chính phủ (Nghị định 110-HĐBT, Nghị định 24/2000/NĐ-CP, Nghị định 27/2003/NĐ-CP, Nghị định 35/2002/NĐ-CP, Nghị định 164/2003/NĐ-CP) và số liệu thống kê nội bộ do Phòng Kinh tế - Kế toán, Phòng Tổ chức Hành chính của Công ty cung cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Lý luận chung về thuế xuất nhập khẩu

Chương này tập trung trình bày các khái niệm cơ bản, bản chất kinh tế - pháp lý, tiến trình hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và các tác động từ cam kết quốc tế:

  • Khái niệm và tính chất: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (thuế quan) là loại thuế đánh vào hàng hóa mậu dịch và phi mậu dịch được phép xuất nhập khẩu qua biên giới quốc gia. Thuế quan có tính chất gián thu đối với hàng mậu dịch, giữ vai trò tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước (chiếm khoảng 13% tổng thu ngân sách), bảo hộ sản xuất non trẻ trong nước, điều tiết tiêu dùng và hướng dẫn xuất nhập khẩu.
  • Lịch sử lập pháp: Điểm qua các mốc quan trọng từ năm 1951, Luật năm 1987, Luật năm 1991 (xây dựng biểu thuế 97 chương theo danh mục quốc tế), Luật năm 1998 (phân định ba khung thuế suất: thông thường, ưu đãi và ưu đãi đặc biệt; quy định thuế bổ sung chống bán phá giá và trợ cấp).
  • Điểm mới của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005:
    • Bỏ thông báo thuế của cơ quan hải quan, chuyển hoàn toàn sang cơ chế người nộp thuế tự tính, tự khai và tự nộp thuế dựa trên tờ khai hải quan.
    • Thống nhất chính sách ưu đãi thuế giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bãi bỏ các quy định ưu đãi phân tán tại các luật chuyên ngành.
    • Phân định rõ thời hạn nộp thuế: 15 ngày đối với hàng xuất khẩu; 90 ngày đối với nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu; 30 ngày đối với máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải phục vụ sản xuất; hàng tiêu dùng phải nộp xong trước khi nhận hàng (hoặc 30 ngày nếu có bảo lãnh của tổ chức tín dụng).
  • Thủ tục quản lý và chế tài: Quy định thẩm quyền xử phạt chậm nộp (0,1%/ngày), phạt trốn thuế từ 1 đến 5 lần số tiền gian lận; thời hiệu truy thu 5 năm đối với hành vi gian lận và 1 năm đối với lỗi nhầm lẫn kê khai; quy trình khiếu nại tại Tổng cục Hải quan (giải quyết trong 20 ngày) và Bộ Tài chính (giải quyết trong 30 ngày).
  • Cam kết WTO: Việt Nam cam kết ràng buộc toàn bộ 10.600 dòng thuế. Thuế suất bình quân toàn biểu giảm 23% (từ 17,4% xuống 13,4%) trong lộ trình 5 – 7 năm:
    • Cắt giảm thuế với khoảng 3.800 dòng (chiếm 35,5% biểu thuế).
    • Giữ nguyên mức hiện hành với khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5%).
    • Ràng buộc theo mức trần cao hơn hiện hành với 3.170 dòng (chiếm 30%), tập trung ở nhóm xăng dầu, kim loại, hóa chất, phương tiện vận tải.
    • Nông nghiệp: mức bình quân cam kết giảm từ 25,2% xuống 21,0%; áp dụng hạn ngạch thuế quan cho 4 mặt hàng: trứng (40%), đường thô (25%), đường tinh (50 – 60%), thuốc lá lá (30%), muối ăn (30%).
    • Công nghiệp: mức bình quân giảm từ 16,1% xuống 12%; tham gia đầy đủ Hiệp định ITA đưa khoảng 330 dòng thuế sản phẩm công nghệ thông tin về 0% sau 3 – 5 năm (tối đa 7 năm).
    • Tác động giảm thu ngân sách ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng/năm (chiếm 6 – 7% số thu thuế nhập khẩu hàng năm).

Chương II: Thực trạng áp dụng Luật thuế xuất nhập khẩu tại công ty kinh doanh xuất nhập khẩu Viglacera

Chương hai phân tích tổng quan doanh nghiệp và các điều kiện thực tiễn tác động đến việc thi hành luật thuế:

  • Lịch sử và tư cách pháp lý: Tiền thân là Phòng Kinh doanh và Xuất nhập khẩu trực thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng (Viglacera), thành lập theo Quyết định số 217/QĐ-BXD ngày 17/05/1998, tên giao dịch là TRADIMEX. Công ty thực hiện hạch toán phụ thuộc Tổng công ty, chịu sự quản lý ngành của Bộ Xây dựng và quản lý tài chính của Bộ Tài chính.
  • Cơ cấu tổ chức: Hoạt động theo mô hình trực tuyến - chức năng gồm Giám đốc, các Phó Giám đốc (phụ trách chi nhánh TP.HCM, phụ trách xuất nhập khẩu, phụ trách kinh doanh), Kế toán trưởng và các phòng chức năng: Kinh doanh, Tổ chức hành chính, Xuất khẩu lao động, Bộ phận kinh doanh kính xây dựng, Bộ phận kinh doanh nội địa.
  • Năng lực cơ sở vật chất: Sở hữu 2 chi nhánh tại Hà Nội và TP.HCM; Nhà máy sản xuất gương và kính tại Bình Dương (công suất 2 triệu m²/năm); mạng lưới liên kết tiêu thụ và cung ứng thiết bị cho Nhà máy kính Đáp Cầu, liên doanh Kính nổi VFG (hợp tác với Nippon - Nhật Bản), các nhà máy sứ vệ sinh tiêu chuẩn ISO 9000, gạch Granite Tiên Sơn và 16 đơn vị sản xuất gạch ngói đất sét nung lò tuynen.
  • Cơ cấu nguồn vốn năm 2005:
    • Vốn điều lệ cổ phần hóa: 8.000.000.000 đồng (Nhà nước nắm 25%, cán bộ công nhân viên và nhà đầu tư nắm 75%).
    • Tổng vốn kinh doanh theo Bảng cân đối kế toán năm 2005: 224.941.725.536 đồng.
    • Vốn lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm tỷ trọng chủ đạo 99,42% (223.640.909.426 đồng); vốn cố định chỉ chiếm 0,58% (1.300.816.110 đồng).
    • Về nguồn hình thành vốn: Vay tín dụng dài hạn chiếm 84,00% (188.342.879.037 đồng), vay ngắn hạn chiếm 13,53% (30.340.649.600 đồng), vay khác chiếm 2,47% (5.531.069.845 đồng), vốn nhà nước chiếm 0,68% (727.127.000 đồng).
  • Biến động lao động và cổ phần hóa:
    • Tính đến 30/06/2005: Tổng số 67 lao động (41 đại học/trên đại học, 17 cao đẳng/trung cấp, 9 phổ thông; trong đó 4 biên chế, 33 hợp đồng không xác định thời hạn, 28 hợp đồng xác định thời hạn, 2 mùa vụ).
    • Sau cổ phần hóa theo Quyết định số 1196/QĐ-BXD ngày 31/05/2005: Quy mô tinh gọn còn 55 người (36 đại học/trên đại học, 13 cao đẳng/trung cấp, 6 phổ thông; 0 biên chế, 34 hợp đồng không xác định thời hạn, 20 hợp đồng xác định thời hạn, 1 mùa vụ).
  • Kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2002 – 2005:
Chỉ tiêu (Đơn vị: Đồng) Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Tổng tài sản 179.845.226.799 254.192.619.167 224.941.725.536 264.756.355.904,34
Vốn nhà nước 519.475.589 697.127.054 727.127.054 727.127.054
Doanh thu thuần 205.754.525.768 245.403.248.430 200.926.025.419 215.532.766.190
Lợi nhuận trước thuế 375.962.551 749.275.884 2.158.266.105 2.876.805.067,33
Nộp ngân sách 26.713.409.798 37.277.378.817 35.966.211.489 41.905.135.059
Nợ phải trả 178.807.617.888 252.243.916.909 224.214.598.482 263.829.025.020,34
Nợ phải thu 132.669.335.106 171.987.774.220 177.206.515.731 205.158.388.977,34
Số lao động (người) 113 137 65 57
Thu nhập bình quân (đồng) 1.776.000 1.532.000 2.100.000 2.126.666,67
  • Kế hoạch mục tiêu giai đoạn 2006 – 2008:
    • Lao động danh sách: 55 người (2006), 57 người (2007), 60 người (2008). Thu nhập bình quân tăng từ 2.220.742 đồng lên 2.355.986 đồng/người/tháng.
    • Doanh thu thuần xuất khẩu kế hoạch: 323,66 tỷ đồng (2006), 339,85 tỷ đồng (2007) và 360,24 tỷ đồng (2008).
    • Lợi nhuận trước thuế dự kiến: 2,06 tỷ đồng (2006), 2,28 tỷ đồng (2007) và 2,71 tỷ đồng (2008).

Chương III: Những biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của công ty nhìn từ góc độ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Chương này xây dựng các định hướng và giải pháp cụ thể gắn liền với công tác quản trị thuế tại doanh nghiệp:

  • Tận dụng triệt để các quy định về ưu đãi thuế quan theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 và các biểu thuế ưu đãi trong các khu vực mậu dịch tự do để tối ưu hóa chi phí nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất.
  • Chủ động hoàn thiện quy trình lập tờ khai hải quan và áp mã số hàng hóa (mã HS 8 chữ số) chính xác, đảm bảo tuân thủ cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế, hạn chế rủi ro bị truy thu hoặc phạt vi phạm hành chính.
  • Nâng cao hiệu quả quản trị dòng tiền để đáp ứng các mốc thời hạn nộp thuế (15 ngày, 30 ngày, 90 ngày) và thủ tục hoàn thuế đối với vật tư nhập khẩu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.
  • Đẩy mạnh công tác tiếp thị, mở rộng thị trường xuất khẩu các mặt hàng mũi nhọn (kính xây dựng, gạch granite, gạch ốp lát, sứ vệ sinh) sang các thị trường quốc tế có hiệp định ưu đãi thuế quan nhằm gia tăng kim ngạch xuất khẩu.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể sau:

  1. Làm rõ bức tranh tài chính và thực thi nghĩa vụ ngân sách: Giai đoạn 2002 – 2005, doanh nghiệp duy trì mức nộp ngân sách nhà nước tăng từ 26,71 tỷ đồng (2002) lên 41,91 tỷ đồng (2005). Lợi nhuận trước thuế tăng trưởng liên tục từ 375,96 triệu đồng (2002) lên 2,88 tỷ đồng (2005).
  2. Đánh giá tác động chuyển đổi mô hình: Phân tích rõ nét sự thay đổi về quy mô nhân sự và hiệu quả sử dụng lao động sau cổ phần hóa (từ 137 lao động năm 2003 giảm xuống 57 lao động năm 2005, thu nhập bình quân tăng từ 1,53 triệu đồng lên 2,13 triệu đồng/tháng).
  3. Cập nhật chính sách thuế mới: Phân tích chi tiết những điểm đổi mới của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 và các cam kết thuế quan khi gia nhập WTO, chỉ rõ tác động giảm mức thuế bình quân từ 17,4% xuống 13,4% đối với hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian thực tập ngắn hạn của sinh viên; nguồn dữ liệu tập trung chủ yếu vào các báo cáo tổng hợp nội bộ của công ty trong giai đoạn chuyển đổi cổ phần hóa; các đánh giá về Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 và cam kết WTO mới dừng lại ở mức độ dự báo tác động do luật mới bắt đầu có hiệu lực từ đầu năm 2006.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tế áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế tại công ty sau khi Luật năm 2005 và Luật Quản lý thuế đi vào cuộc sống; đo lường mức độ ảnh hưởng thực tế của lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất thép, gốm sứ khi Việt Nam chính thức thực thi đầy đủ các cam kết WTO.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Luật kinh tế, Luật Thương mại quốc tế: Tham khảo phương pháp tiếp cận đề tài kết hợp giữa lý luận quy phạm pháp luật thuế và thực tiễn số liệu kế toán tại doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa.
  • Cán bộ kế toán thuế, chuyên viên xuất nhập khẩu: Tham khảo các phân tích về phân loại mã hàng hóa, thời hạn nộp thuế, thủ tục xét miễn, hoàn thuế và chế độ xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

Câu hỏi thường gặp

1. Lộ trình cắt giảm thuế quan theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam được xác định như thế nào?

Theo cam kết, Việt Nam ràng buộc toàn bộ 10.600 dòng thuế trong biểu thuế. Mức thuế suất bình quân giảm 23% (từ mức MFN 17,4% xuống còn 13,4%) trong thời gian 5 đến 7 năm. Trong đó, cắt giảm khoảng 3.800 dòng thuế (35,5%), giữ nguyên mức hiện hành khoảng 3.700 dòng thuế (34,5%) và ràng buộc theo mức trần cao hơn hiện hành 3.170 dòng thuế (30%).

2. Điểm đổi mới căn bản của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 về thủ tục nộp thuế là gì?

Luật năm 2005 đã bãi bỏ quy định cơ quan hải quan ra thông báo thuế. Thay vào đó, thời điểm tính thuế là thời điểm người nộp thuế đăng ký tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu; tờ khai hàng hóa đồng thời là tờ khai thuế. Người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ theo cơ chế tự tính, tự khai và tự nộp thuế.

3. Cơ cấu nguồn vốn năm 2005 của Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera có đặc điểm gì nổi bật?

Tổng vốn kinh doanh năm 2005 đạt 224.941.725.536 đồng, trong đó vốn lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm tỷ lệ áp đảo 99,42% (223,64 tỷ đồng), vốn cố định chỉ chiếm 0,58% (1,30 tỷ đồng). Nguồn vốn hình thành chủ yếu từ các khoản vay tín dụng dài hạn, chiếm tới 84,00% tổng nguồn vốn (188,34 tỷ đồng).

4. Quy mô nhân sự của công ty thay đổi ra sao sau khi thực hiện cổ phần hóa theo Quyết định số 1196/QĐ-BXD?

Tổng số lao động được sắp xếp lại giảm từ 67 người (tại ngày 30/06/2005) xuống còn 55 người sau cổ phần hóa. Trình độ nhân sự sau sắp xếp gồm 36 người có trình độ đại học và trên đại học, 13 người có trình độ cao đẳng/trung cấp và 6 lao động phổ thông; toàn bộ 4 biên chế cũ được chuyển đổi sang hình thức hợp đồng lao động.

5. Kết quả doanh thu thuần và nghĩa vụ nộp ngân sách của Viglacera giai đoạn 2002 – 2005 biến động như thế nào?

Doanh thu thuần của công ty đạt đỉnh 245,40 tỷ đồng vào năm 2003, giảm xuống 200,93 tỷ đồng năm 2004 do biến động thị trường và phục hồi lên mức 215,53 tỷ đồng năm 2005. Nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước tăng đều qua các năm: 26,71 tỷ đồng (2002), 37,28 tỷ đồng (2003), 35,97 tỷ đồng (2004) và đạt 41,91 tỷ đồng (2005).

Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Hợp đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý và lý luận về thuế xuất nhập khẩu tại Việt Nam, đặc biệt là những đổi mới của Luật năm 2005 và bối cảnh đàm phán gia nhập WTO. Thông qua việc phân tích thực trạng tổ chức, năng lực tài chính và tình hình sản xuất kinh doanh tại Công ty kinh doanh và xuất nhập khẩu Viglacera giai đoạn 2002 – 2005, công trình đã phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa chính sách thuế quan và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các định hướng giải pháp được đề xuất mang tính thực tiễn, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại quốc tế trong thời kỳ hội nhập.