Luận văn về xử lý nợ xấu tại ngân hàng thương mại

Phân tích chuyên sâu các quy định pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước tại Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Khoa Luật

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2007

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về pháp luật xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước

Pháp luật xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động nhận diện, phân loại, thu hồi và xử lý các khoản tín dụng không còn khả năng thanh toán. Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng Việt Nam chủ yếu do Nhà nước kiểm soát, nợ xấu trở thành vấn đề nhạy cảm cả về kinh tế lẫn pháp lý. Theo luận văn của Phạm Kim Thoa (2007), nợ xấu không chỉ phản ánh rủi ro tín dụng mà còn cho thấy sự bất cập trong khung pháp lý điều chỉnh. Việc thiếu một định nghĩa thống nhất và cơ chế xử lý đồng bộ khiến các ngân hàng thương mại nhà nước gặp khó trong thu hồi nợ. Các quy định rải rác trong Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đất đai, Luật Phá sản doanh nghiệp và Luật Doanh nghiệp chưa tạo thành một hệ thống khép kín. Do đó, hiểu đúng pháp luật xử lý nợ xấu là bước đầu tiên để cải thiện hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng trong khu vực ngân hàng công.

1.1. Khái niệm nợ xấu và phân loại theo quy định pháp luật

Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN (sửa đổi bởi Thông tư 11/2021/TT-NHNN), nợ xấu được phân thành nhóm 3, 4 và 5 dựa trên thời gian quá hạn và khả năng thu hồi. Nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn cao – là trọng tâm trong xử lý pháp lý. Tuy nhiên, khái niệm này chưa bao quát hết các trường hợp rủi ro tiềm ẩn như cho vay không có tài sản đảm bảo hoặc khách hàng trốn tránh nghĩa vụ. Việc phân loại thiếu linh hoạt làm giảm hiệu quả can thiệp pháp lý kịp thời.

1.2. Cơ sở pháp lý hiện hành về xử lý nợ xấu

Cơ sở pháp lý chủ yếu bao gồm Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi 2017), Nghị quyết 42/2017/QH14 (hết hiệu lực năm 2022), và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước. Dù Nghị quyết 42 từng tạo đột phá bằng cách cho phép xử lý tài sản đảm bảo mà không cần thông qua tòa án, nhưng sau khi hết hiệu lực, xử lý nợ xấu lại quay về quy trình tố tụng truyền thống – chậm, tốn kém và kém hiệu quả. Điều này cho thấy sự thiếu bền vững trong khung pháp luật xử lý nợ xấu.

II. Thách thức pháp lý trong xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước

Một trong những rào cản lớn nhất đối với xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước là sự chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. Luận văn của Phạm Kim Thoa (2007) chỉ rõ rằng pháp luật dân sự, pháp luật đất đai, và luật phá sản chưa đồng bộ với quy định ngân hàng, dẫn đến tình trạng “luật chồng luật”. Ví dụ, khi xử lý tài sản đảm bảo là đất đai, ngân hàng phải tuân thủ Luật Đất đai 2013, nhưng quy trình đăng ký, đấu giá lại bị chi phối bởi Luật Đấu giá tài sản và Luật Thi hành án dân sự – gây kéo dài thời gian thu hồi. Ngoài ra, quyền xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thường bị hạn chế bởi quyền lợi của bên thứ ba hoặc tranh chấp dân sự. Điều này làm giảm tính khả thi của các biện pháp xử lý nợ xấu dù đã được pháp luật cho phép.

2.1. Mâu thuẫn giữa pháp luật ngân hàng và pháp luật đất đai

Luật Đất đai yêu cầu nhiều thủ tục hành chính để chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong khi ngân hàng cần xử lý nhanh để giảm tổn thất. Sự thiếu phối hợp giữa cơ quan đăng ký đất đai và hệ thống ngân hàng khiến tài sản đảm bảo bị “đóng băng” trong thời gian dài, làm tăng rủi ro tín dụng và giảm hiệu quả xử lý nợ xấu.

2.2. Hạn chế từ pháp luật phá sản và thi hành án

Thủ tục phá sản kéo dài trung bình 2–3 năm, trong khi giá trị tài sản suy giảm theo thời gian. Hơn nữa, theo Luật Phá sản 2014, chủ nợ ngân hàng không luôn được ưu tiên thanh toán. Điều này làm giảm động lực khởi kiện và khiến nhiều khoản nợ xấu tồn đọng, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống ngân hàng.

III. Phương pháp xử lý nợ xấu theo pháp luật hiện hành

Hiện nay, pháp luật xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước cho phép áp dụng nhiều phương pháp: cơ cấu lại nợ, bán nợ, xử lý tài sản đảm bảo, và thành lập công ty quản lý tài sản (AMC). Tuy nhiên, hiệu quả từng phương pháp phụ thuộc lớn vào tính đồng bộ của khung pháp lý. Theo Phạm Kim Thoa (2007), việc thành lập Công ty mua bán nợ (DATC) và các AMC nội bộ là bước đi tích cực, nhưng thiếu cơ chế pháp lý rõ ràng về quyền thu hồi, định giá và chuyển nhượng nợ. Đặc biệt, bán nợ cho tổ chức khác vẫn bị ràng buộc bởi quy định về bảo mật thông tin khách hàng và điều kiện pháp lý đối với người mua nợ. Ngoài ra, quỹ dự phòng rủi ro dù được quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng, nhưng mức trích lập chưa đủ bù đắp tổn thất thực tế, làm giảm khả năng tự xử lý nợ xấu của ngân hàng.

3.1. Cơ cấu lại nợ và giãn tiến độ trả nợ

Đây là biện pháp mang tính phòng ngừa, giúp khách hàng phục hồi khả năng thanh toán. Tuy nhiên, nếu lạm dụng, cơ cấu lại nợ có thể che giấu nợ xấu thực, làm sai lệch báo cáo tài chính và giảm minh bạch hệ thống.

3.2. Vai trò của công ty quản lý tài sản AMC

Các AMC do ngân hàng thành lập giúp tách nợ xấu ra khỏi bảng cân đối, cải thiện chỉ số an toàn. Nhưng do thiếu hành lang pháp lý riêng, AMC hoạt động cầm chừng, chủ yếu xử lý nội bộ thay vì tham gia thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp.

IV. Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Thái Lan và Malaysia đã xây dựng khung pháp luật xử lý nợ xấu toàn diện sau khủng hoảng tài chính châu Á 1997. Hàn Quốc thành lập KAMCO – công ty mua bán nợ quốc gia – với quyền lực pháp lý mạnh, được phép mua nợ từ ngân hàng với giá thị trường và xử lý linh hoạt. Thái Lan áp dụng tòa án chuyên trách xử lý tranh chấp tín dụng trong vòng 90 ngày. Những mô hình này cho thấy, xử lý nợ xấu hiệu quả đòi hỏi không chỉ công cụ tài chính mà còn cải cách pháp luật chuyên sâu. Tại Việt Nam, việc thiếu một đạo luật riêng về xử lý nợ xấu và cơ chế tài phán chuyên biệt khiến ngân hàng thương mại nhà nước khó tiếp cận các chuẩn mực quốc tế. Do đó, cần học hỏi cách xây dựng hệ thống pháp lý đồng bộ, minh bạch và có tính cưỡng chế cao.

4.1. Mô hình KAMCO của Hàn Quốc và ứng dụng tại Việt Nam

KAMCO được Quốc hội Hàn Quốc trao quyền đặc biệt: mua nợ, xử lý tài sản, và phối hợp với cơ quan thuế, đất đai. Việt Nam có thể tham khảo bằng cách trao quyền pháp lý rõ ràng cho DATC hoặc thành lập AMC quốc gia với hành lang pháp lý độc lập.

4.2. Tòa án chuyên trách xử lý tranh chấp tín dụng

Việc thành lập tòa án chuyên trách sẽ rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp từ vài năm xuống vài tháng, tăng tính răn đe và hiệu quả thu hồi nợ xấu – điều mà hệ thống tư pháp hiện tại chưa đáp ứng được.

V. Đề xuất hoàn thiện pháp luật xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước

Để nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu, cần xây dựng một đạo luật riêng – Luật Xử lý nợ xấu – với các quy định rõ ràng về quyền xử lý tài sản đảm bảo, cơ chế mua bán nợ, vai trò của AMC, và phối hợp liên ngành. Đồng thời, cần sửa đổi đồng bộ Luật Đất đai, Luật Phá sảnLuật Thi hành án để loại bỏ mâu thuẫn pháp lý. Một đề xuất then chốt từ luận văn Phạm Kim Thoa (2007) là thống nhất khái niệm nợ xấu trong hệ thống pháp luật và trao quyền xử lý tài sản đảm bảo cho ngân hàng mà không cần phán quyết tòa án trong trường hợp có hợp đồng thế chấp hợp lệ. Ngoài ra, cần tăng cường giám sát pháp lý đối với hoạt động cho vay để ngăn ngừa nợ xấu phát sinh từ gốc, thay vì chỉ tập trung vào xử lý hậu kỳ.

5.1. Xây dựng Luật Xử lý nợ xấu chuyên biệt

Một đạo luật riêng sẽ tạo cơ sở pháp lý thống nhất, minh bạch và có tính khả thi cao, giúp ngân hàng thương mại nhà nước chủ động xử lý nợ xấu mà không vướng rào cản pháp lý phân mảnh.

5.2. Cải cách đồng bộ pháp luật liên quan

Cần rà soát và sửa đổi các luật liên quan như Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, và Luật Hôn nhân và Gia đình để đảm bảo quyền xử lý tài sản đảm bảo không bị cản trở bởi quyền lợi thứ cấp hoặc thủ tục hành chính rườm rà.

VI. Tương lai của pháp luật xử lý nợ xấu trong bối cảnh hội nhập

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và áp dụng Basel III, ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam buộc phải nâng cao tỷ lệ an toàn vốn và giảm tỷ lệ nợ xấu xuống dưới 3%. Điều này đòi hỏi pháp luật xử lý nợ xấu không chỉ mang tính nội địa mà phải tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Một hệ thống pháp lý linh hoạt, minh bạch và có cơ chế cưỡng chế mạnh sẽ giúp ngân hàng chủ động quản trị rủi ro, thu hút đầu tư nước ngoài và tăng năng lực cạnh tranh. Tương lai của xử lý nợ xấu không nằm ở việc “che giấu” mà ở khả năng phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý nhanh – điều chỉ có thể đạt được khi khung pháp lý được hoàn thiện một cách hệ thống và chiến lược.

6.1. Ảnh hưởng của Basel III đến yêu cầu xử lý nợ xấu

Basel III yêu cầu ngân hàng duy trì vốn đệm và có hệ thống quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả. Nếu pháp luật xử lý nợ xấu không đủ mạnh, các ngân hàng thương mại nhà nước sẽ khó đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, làm giảm uy tín và khả năng huy động vốn.

6.2. Xu hướng số hóa và pháp lý xử lý nợ xấu

Công nghệ blockchain và AI có thể hỗ trợ theo dõi tài sản đảm bảo và dự báo nợ xấu, nhưng cần khung pháp lý cho phép sử dụng bằng chứng số và hợp đồng thông minh – điều hiện chưa được quy định rõ trong luật Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tĩnh cắp thiết của dề tài Nợ xâu ngân hàng trong những năm gần đây tăng nhanh. Sự tồn đọng và phát triển của nợ xấu dến từ nhiều nguyên nhân kháu nhau. Nợ xấu gia ting sẽ có tác động tiêu cực đến hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước và cho toản bộ hệ thông tải chính của Việt Nam.

Chính vì vậy, nghiên cứu các cặn nguyên cũng như thực trạng gủa nợ xấu sẽ khiến cho việc giái qu toán về nợ có thể trở nên dễ đảng và thuận lợi hơn. Tuy vậy, hiện nay cá rất nhiều điểm bất cập trong quá trỉnh xử lý nợ xấu ngân hàng, đặc biệt là ở khối các ngân hàng thương mại nhà nước. Quy dịnh về lô trình, các biện pháp xử lý nợ và các văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu nhiều quy định cần thiết, nhiều điểm còn chưa hợp lý, bất cập, các văn bản luật chuyên ngành khác còn quá cứng nhắc, không phủ hợp với thực tiễn. Chính vì vậy, dù đã nỗ lực rất nhiều và đã có những thành tựu dáng kể trong tiền trình lâm lành mạnh hóa ngân hàng trong những năm qua, dư nợ giảm mạnh nhưng số nợ xấu tuyết đối vẫn tiếp tục tăng lên.

Diễu nảy khiến cho ngành ngân hàng, oũng như oắ nên kinh tế không tránh khỏi lọ âu. Đặc biệt, vào tháng 12 năm 2006, Việt Nam đã trở thành thành viên chỉnh thức của "Lỗ chức hương mại Thế giới (WTO). Sức ép của sân chơi này đối với các ngân hàng thương mại nhà nước không phải là nhỏ, khi đó là một trong những lĩnh vực phải cam kết mở cửa và cải cách mạnh mẽ nhất. Vấn đề nợ xấu lại dược đưa ra, vi xử lý dược nợ sẽ nâng cao tiểm lực ngảnh ngân hàng, duy tri su Ổn định và phát triển bền vững của nền kinh tế vĩ mồ.

Thực tiễn và lý luận đều doi hỏi quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn để nay sau sắc và chính xác hơn nữa. Chỉnh vỉ vậy, nghiên cứu tổng thể các chính sách cũng như pháp luật về xứ lý nợ xấu, tiến tới hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực còn rất nhiều lỗ hồng này là một việc làm tương đôi cấp bách trước chủ trương cổ phần hóa ngân hàng thương mại của Nhà nước hiện nay, vừa dap img mục nhiễu yếu tổ và tìm hiểu đưới nhiều góc độ nhưng đa phần đều đừng ử góc độ nghiệp vụ của ngành. chưa di sâu về các khía canh luật pháp. Chính vì vậy, dù thức được tim quan trọng của công tác xử lý nợ, nhưng do luật pháp trong van dé nay gòn thiểu và yếu nên việc xử lý nợ chưa mang lại kết quã tốt đựp theo như mong muốn của các bên có liên quan.

hiện nay chưa có một công trình khoa học nảo nghiên cứu tổng thé van đề nợ xấu, dù đây là vấn đề way bite xúc, dòi hỏi phải có sự diều chinh loan diện và cụ thể của các nhà làm luật. Môc @Ých nghi°n cøu vụ nhiÖm vô cña luỄn vn Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn cho các giải pháp nhằm nâng cao khả năng xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mai nha nude Việt Nam trong tiến trình hội nhập va phát triển của các định chế ngân hàng với các tiêu chuẩn quốc tế. Với mục đích trên, đề tải đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Lầm sáng tỏ về mặt lý luận các khái niệm về nợ xấu. - Phân tích, đánh giá một cách khoa học và đầy đủ về nguyên nhân, thực trạng, kết quả đạt được và những bất cập trong việc xử lý nợ xấu ủa cáp ngân hàng thương mại nhà nước trong những năm qua.

- Xác định nhu cầu thực tiễn phải hoàn thiện các giải pháp xứ lý nợ xấu đối với các ngân hàng (hương mại nhà nước. - Kinh nghiệm quốc lễ trong việc giải quyết nợ xấu oủa ngân hàng thương mại - Để xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước. Đối tượng, nhạm vi, phương pháp nghiên cúu Déi tượng nghiên cứu: Tloạt động xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại nhà nước tại Việt Nam trong những năm vừa qua nhiễu yếu tổ và tìm hiểu đưới nhiều góc độ nhưng đa phần đều đừng ử góc độ nghiệp vụ của ngành. chưa di sâu về các khía canh luật pháp.

Chính vì vậy, dù thức được tim quan trọng của công tác xử lý nợ, nhưng do luật pháp trong van dé nay gòn thiểu và yếu nên việc xử lý nợ chưa mang lại kết quã tốt đựp theo như mong muốn của các bên có liên quan. hiện nay chưa có một công trình khoa học nảo nghiên cứu tổng thé van đề nợ xấu, dù đây là vấn đề way bite xúc, dòi hỏi phải có sự diều chinh loan diện và cụ thể của các nhà làm luật. Môc @Ých nghi°n cøu vụ nhiÖm vô cña luỄn vn Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng các luận cứ lý luận và thực tiễn cho các giải pháp nhằm nâng cao khả năng xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mai nha nude Việt Nam trong tiến trình hội nhập va phát triển của các định chế ngân hàng với các tiêu chuẩn quốc tế. Với mục đích trên, đề tải đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Lầm sáng tỏ về mặt lý luận các khái niệm về nợ xấu.

- Phân tích, đánh giá một cách khoa học và đầy đủ về nguyên nhân, thực trạng, kết quả đạt được và những bất cập trong việc xử lý nợ xấu ủa cáp ngân hàng thương mại nhà nước trong những năm qua. - Xác định nhu cầu thực tiễn phải hoàn thiện các giải pháp xứ lý nợ xấu đối với các ngân hàng (hương mại nhà nước. - Kinh nghiệm quốc lễ trong việc giải quyết nợ xấu oủa ngân hàng thương mại - Để xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu ngân hàng thương mại nhà nước. Đối tượng, nhạm vi, phương pháp nghiên cúu Déi tượng nghiên cứu: Tloạt động xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại nhà nước tại Việt Nam trong những năm vừa qua Chương I NIICNG VAN DE CIIUNG VE NO XAU CUA NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC 1.

SỰ CẢN THIẾT PHÁI NGHIÊN CỨU VẢ QUY ĐỊNH VẺ XỬ LÝ NO XAU Tả trung gian tải chính, các ngân hàng là cầu nối đầu tư và tiêu thụ, tao đã phát triển nên kinh tế theo xu hướng tăng về chất lượng vả hàm lượng. Trong hoàn cảnh nền kinh tế chuyển đổi, để có thể phát triển kinh tế đi đôi với ốn định xã hội, các quốc gia cần phải chú trọng và xây dựng được một hệ thống ngân hàng vững mạnh vả hoạt động hiệu quả vì ngân hàng phan anh sức khôe nền kinh tế Các ngân hàng thương mại nhà nước Việt am, bao gồm: BIDV, IỚP, VCB, MII, VBARD vẫn đang chiếm giữ hơn 70% huy động vén va 80% thi phan tin dụng nhưng có mức tỷ lê nợ quá hạn rất cao: tỷ lệ lãi Äài sản cổ định ở mức rất thấp. Cáu ngần hàng thương mại nhà nước ViệL Nam chỉ ở mức trang bình khá so với các nước ở khu vực châu Á như Thái Lan, Singapore. “Ty trong vốn tự có / tổng lài sân có điều chỉnh rủi ro hiện ở mức trên 5 %4 trong khi các nước trong khu vực luôn lớn hơn hoặc bằng 8 9; chỉ phí nghiệp vụ / tỐng tài sân Có cao hơn tì lệ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lmg? động bình quân 1,3 lần trong khi các nước trong khu vực luôn nhỏ hon 1" [27].

Hệ quả là, các ngân hàng thương mại nhà nước không phát huy được khả năng sử dụng vốn, chất lượng phục vụ được cải tiễn với tốc độ chậm, nếu không nói là tương đổi yếu so với thể giới. Có thế nói, các ngân hàng thương mại nhà nước có chất lượng và hiệu quá hoạt động không cao. l2o dó, xứ lý ng x4u, nâng cao năng lực phỏng ngừa vả quản trị rủi ro là việc rất cần thiết 1Iem nữa, việc gia nhập WTO đem đến cho đắt nước chúng ta nhiều cơ hội và thách thức hơn. Rõ rảng, khi bước vào sẵn chơi chúng ta phải có bản tiêu phát triển kinh tế, vừa tạo bước đệm cho lĩnh vực ngân hàng - tải chính od được sự bảo hệ cần thiết khi gia nhập WTO, Với mục đích góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về xử lý nợ xấu ngân hàng nói chưng, ngần hảng thương mại nhả nước nói riêng, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp của đề tài "Pháp luật về xử: lý nợ xâu của ngần hàng thương mại nhà nước ở Liệt Nam" đễ tìm ra những định hướng và giải pháp bỗ sung, hoàn thiện quy pham pháp luật trong vẫn dé này là một nhu cầu bức thiết và có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn.

Txnh hxnh nghi'n cpu Xử lý nợ xấu ngân hàng là đề Lái nghiên cứu cúa nhiễu nhà khoa học Mỗi nhà khoa học có một cách khám phá, khai thác đê tài này ở những góc độ khác nhau. Vi dụ, bài “Tink hinh xử lý nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại Việt Nam thời gian qua - những tôn tại, vướng mắc và giải pháp tháo gỡ nhằm ngăn ngừa và xử Ͱ nợ tồn đọng" của Trần Minh Tuấn, Phỏ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước; "7yao đỗi về giải pháp xứ bt nợ xdu trong hệ thông ngân hàng thương mại Liệt Nam" của 'LS. Lê Quốc Lý, Bồ Kế hoach Dầu tư; “Giải quyết nợ xâu và ngăn chặn nợ xdu phat sinh" cha Tran Dinh Dinh, Phó 'Tổng giám dốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, "Nợ xấu - Một số thực trạng, nguyên nhân và giải pháp" của Ngô Minh Châu, Tổng giảm đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam, "Cẩn thực hiện đồng bộ các giải pháp trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Việt Nam" cia TS. Nguyễn Thị Phương Lan, Phỏ Viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng.

"Vấn đề xứ lý nợ xâu của tổ chức tin dụng và của doanh nghiệp" của TS. Nguyễn Đình Tài, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương: "Cẩn gẵn việc xử lý nợ tổn dụng trong quả trình tải cơ cầu ngân bàng thương mại Việt Nam với tông thể xứ lộ công nợ dây dưa của nền kinh tẾ quốc đâm" của TS. Nguyễn Viết Iễng, Giám đốc Công ty BAMC - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ