Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, mô hình tăng trưởng hướng về xuất khẩu được triển khai nhằm tận dụng các lợi thế so sánh về vị trí địa lý, tài nguyên và chi phí nhân công. Đối với tỉnh Thái Bình, ngành dệt may có lịch sử hình thành từ những năm 70 của thế kỷ XX và giữ vai trò là ngành kinh tế mũi nhọn, tạo việc làm cho hàng vạn lao động địa phương cũng như đóng góp tỷ trọng chủ đạo trong tổng giá trị xuất khẩu toàn tỉnh. Dù Tỉnh ủy và UBND tỉnh Thái Bình đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp và mở rộng thị trường, hoạt động xuất khẩu dệt may trên địa bàn giai đoạn 2017–2021 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: tốc độ tăng trưởng kim ngạch chưa thực sự ổn định, suy giảm mạnh dưới tác động của đại dịch Covid-19 trong năm 2020, phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên phụ liệu nhập khẩu và chủ yếu thực hiện phương thức gia công giá trị gia tăng thấp.

Bên cạnh đó, các chính sách thúc đẩy xuất khẩu do địa phương ban hành phần lớn mang tính ngắn hạn, thiếu chiến lược tổng thể chuyên biệt cho ngành dệt may, cơ chế phối hợp liên ngành còn bất cập và hạ tầng kỹ thuật phục vụ chế biến, dệt nhuộm chưa đồng bộ. Trước bối cảnh đó, đề tài "Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh Thái Bình" được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu hoàn thiện khung chính sách quản lý nhà nước về xuất khẩu dệt may tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của khóa luận là đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn tiếp theo. Để thực hiện mục tiêu này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nói chung và hàng dệt may nói riêng của chính quyền cấp tỉnh.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu và thực trạng các chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2017 đến 9 tháng đầu năm 2021, chỉ ra các thành công, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất các quan điểm, định hướng, giải pháp và kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhằm hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu dệt may của tỉnh đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh Thái Bình. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại địa bàn tỉnh Thái Bình; phạm vi thời gian đánh giá thực trạng giai đoạn 2017 đến 9 tháng đầu năm 2021 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030; phạm vi nội dung tập trung vào hệ thống cơ chế, chính sách của chính quyền địa phương tác động tới hoạt động sản xuất và thị trường xuất khẩu hàng dệt may.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận về quản lý nhà nước đối với thương mại và kinh tế đối ngoại. Tác giả vận dụng các khái niệm nền tảng:

  • Chính sách quản lý nhà nước về thương mại (theo Giáo trình Quản lý nhà nước về Thương mại, Trường Đại học Thương Mại): là tổng thể các nguyên tắc, quy định, biện pháp mà Nhà nước sử dụng để tác động tới lĩnh vực thương mại nhằm đạt mục tiêu xác định trong từng giai đoạn chiến lược.
  • Xuất khẩu hàng hóa (theo quy định tại Điều 28, Luật Thương mại năm 2005): là hoạt động đưa hàng hóa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực hải quan riêng.
  • Chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh: tổng thể quan điểm, chủ trương, quy hoạch, công cụ và biện pháp mà chính quyền cấp tỉnh lựa chọn, ban hành nhằm tác động vào hoạt động xuất khẩu dệt may, qua đó nâng cao sản lượng, giá trị kim ngạch và năng lực cạnh tranh của địa phương.

Về khung đánh giá, tác giả thiết lập 5 tiêu chí cơ bản để thẩm định chất lượng và hiệu lực của chính sách thúc đẩy xuất khẩu cấp tỉnh:

  1. Tính hiệu lực: mức độ đạt được mục tiêu đề ra và sự tuân thủ, chấp hành của các đối tượng chịu tác động.
  2. Tính hiệu quả: mối tương quan giữa kết quả kinh tế - xã hội thu được với nguồn lực ngân sách và vật lực địa phương đã bỏ ra.
  3. Tính công bằng: sự phân bổ hợp lý quyền lợi, chi phí, cơ hội tiếp cận ưu đãi giữa các thành phần doanh nghiệp và tầng lớp dân cư.
  4. Tính bền vững: chu kỳ áp dụng, thời gian duy trì hiệu lực và khả năng thích ứng lâu dài với biến động thị trường.
  5. Sự phù hợp: tính thống nhất với hệ thống pháp luật trung ương, sự tương thích với điều kiện tự nhiên, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và cam kết hội nhập quốc tế (WTO, các FTA song phương và đa phương).

Khung chính sách được tác giả phân chia thành các nhóm công cụ cụ thể: nhóm chính sách thúc đẩy phát triển sản phẩm (hỗ trợ hạ tầng khu/cụm công nghiệp, hỗ trợ sản xuất, chính sách đầu vào, khoa học - công nghệ); nhóm chính sách thúc đẩy thị trường (xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin, hỗ trợ tham gia hội chợ triển lãm); và các nhóm chính sách bổ trợ (thuế, tín dụng, phát triển nguồn nhân lực).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Phương pháp thu thập dữ liệu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Thái Bình (năm 2020), các báo cáo thống kê chuyên đề của Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, văn bản chỉ đạo và báo cáo tổng kết của UBND tỉnh Thái Bình, Sở Công Thương tỉnh Thái Bình cùng các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án liên quan đã công bố. Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích định tính văn bản quy phạm pháp luật và phương pháp so sánh đối chiếu số liệu chuỗi thời gian giai đoạn 2017–2021.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Một số lý luận cơ bản về chính sách thúc đẩy xuất khẩu dệt may của tỉnh

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về bản chất, đặc trưng và vai trò của chính sách xuất khẩu dệt may cấp địa phương. Tác giả phân tích đặc thù của sản phẩm dệt may (tính thời trang, chu kỳ ngắn, sử dụng nhiều lao động phổ thông, chịu rào cản kỹ thuật khắt khe từ thị trường nhập khẩu) và tổng hợp 9 phương thức xuất khẩu phổ biến: xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu gián tiếp, gia công xuất khẩu, gia công ủy thác, xuất khẩu ủy thác, mua bán đối lưu, buôn bán tại hội chợ triển lãm, xuất khẩu tại chỗ, tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu.

Tác giả luận giải vai trò của chính sách thúc đẩy xuất khẩu địa phương trong việc dịch chuyển cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại; đồng thời phân định rõ thẩm quyền của chính quyền cấp tỉnh trong việc cụ thể hóa khung luật pháp quốc gia thông qua các công cụ quy hoạch, xúc tiến đầu tư hạ tầng, đào tạo nghề và cung cấp dịch vụ công hỗ trợ thương mại.

Chương 2. Thực trạng chính sách thúc đẩy xuất khẩu dệt may của tỉnh Thái Bình

Nội dung chương 2 tập trung phân tích số liệu thực tế về sản xuất, kim ngạch, cơ cấu thị trường dệt may và rà soát hệ thống chính sách của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2017 – 9 tháng đầu năm 2021:

Quy mô ngành và sản lượng: Tính đến thời điểm nghiên cứu, toàn tỉnh có hơn 300 doanh nghiệp dệt may, da giày. Trong đó, có 44 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (5 doanh nghiệp FDI, 39 doanh nghiệp và cơ sở trong nước), với 41 đơn vị hỗ trợ ngành dệt (23 đơn vị dệt nhuộm và 18 đơn vị sản xuất xơ, sợi). Một số doanh nghiệp quy mô lớn sở hữu dây chuyền hiện đại được nêu tên gồm: Công ty TNHH Hợp Thành, Công ty Cổ phần Tập đoàn Đại Cường, Công ty Cổ phần Bitexco Nam Long, Công ty Cổ phần Damsan, Công ty Cổ phần Sợi Trà Lý.

Diễn biến kim ngạch và cơ cấu thị trường: Dệt may giữ vị trí xuất khẩu chủ đạo, chiếm 62,3% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh năm 2020. Kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng trưởng đều trong giai đoạn 2017–2019, giảm sút xuống 909,63 triệu USD vào năm 2020 do tác động của dịch Covid-19 (giảm 20,2%), sau đó phục hồi trong 9 tháng đầu năm 2021 đạt 972,048 triệu USD (tăng 42,5% so với cùng kỳ năm 2020). Thái Bình duy trì quan hệ xuất khẩu dệt may với hơn 50 quốc gia, tập trung chủ yếu tại 4 thị trường lớn:

Thị trường 2017 (triệu USD / %) 2018 (triệu USD / %) 2019 (triệu USD / %) 2020 (triệu USD / %) 9 tháng đầu năm 2021 (triệu USD / %)
Hàn Quốc 329,93 (34,5%) 375,45 (35,4%) 419,49 (36,8%) 304,72 (33,5%) 313,97 (32,3%)
Hoa Kỳ 291,67 (30,5%) 336,21 (31,7%) 396,69 (34,8%) 257,42 (28,3%) 249,82 (25,7%)
Trung Quốc 216,80 (22,67%) 251,68 (23,73%) 300,94 (26,4%) 161,91 (17,8%) 160,40 (16,5%)
Nhật Bản 194,13 (20,3%) 228,03 (21,5%) 247,36 (21,7%) 140,08 (15,4%) 142,90 (14,7%)

Thực trạng ban hành và triển khai chính sách: Tỉnh Thái Bình đã ban hành các văn bản điều hành quan trọng như Đề án "Phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực có lợi thế cạnh tranh để tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Thái Bình đến năm 2020"; Chương trình phát triển xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 11/2019/NQ-HĐND và Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND quy định ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế Thái Bình giai đoạn 2020–2030; Quyết định số 2171/QĐ-UBND ngày 15/8/2017 phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh giai đoạn 2017–2025; Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo Nghị quyết số 27/2016/NQ-HĐND ngày 15/7/2016; Quyết định số 3192/QĐ-UBND ngày 18/11/2020 phê duyệt Kế hoạch phát triển thương mại điện tử 2021–2025.

Đánh giá kết quả và tồn tại: Bên cạnh việc duy trì tăng trưởng kim ngạch và mở rộng thị trường, chính sách còn nhiều hạn chế: chưa có chiến lược chuyên biệt dài hạn cho dệt may; phần lớn doanh nghiệp gia công theo mẫu, phụ thuộc nguyên liệu chỉ định từ đối tác ngoại; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm; cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ (hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm chưa đạt chuẩn, nguồn điện sản xuất còn dùng chung với điện sinh hoạt dẫn đến hiện tượng mất điện đột ngột làm gián đoạn sản xuất); cơ chế phối hợp giữa các sở, ban ngành chưa chặt chẽ và kinh phí hỗ trợ xúc tiến từ ngân sách tỉnh còn thấp.

Chương 3. Các đề xuất và kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh Thái Bình

Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách dựa trên các mục tiêu chiến lược của tỉnh:

  • Mục tiêu phát triển: Đến năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may toàn tỉnh đạt 1.870,61 triệu USD (tăng trưởng bình quân 4,5%/năm); giá trị sản xuất công nghiệp trong các cụm công nghiệp (CCN) đạt gần 35.987,5 tỷ đồng (chiếm 25% giá trị toàn tỉnh), kim ngạch xuất khẩu trong CCN đạt 364 triệu USD (đến năm 2030 đạt gần 63.000 tỷ đồng và 595 triệu USD xuất khẩu). Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn tỉnh đạt 2.750,9 triệu USD vào năm 2025, tỷ lệ xuất khẩu/GRDP đạt trên 50%.

Hệ thống giải pháp gồm 4 nhóm:

  1. Hoàn thiện quá trình tổ chức chính sách: Tăng cường năng lực phân tích, dự báo thị trường xuất khẩu; chuẩn hóa quy trình lập kế hoạch theo hướng dài hạn; nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức công vụ của cán bộ quản lý; thành lập đội ngũ chuyên trách theo dõi, kiểm tra, giám sát thực thi chính sách và xử lý sai phạm quy hoạch.
  2. Hoàn thiện nội dung chính sách: Tập trung nguồn vốn ngân sách đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật; hỗ trợ lãi suất cho các dự án dệt may ứng dụng công nghệ cao, thu hút nhiều lao động; xây dựng hệ sinh thái thông tin thị trường hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận các thị trường mới ngoài thị trường truyền thống.
  3. Hoàn thiện điều kiện thực thi chính sách: Cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong hải quan và quản lý thuế nhằm rút ngắn thời gian thông quan; tạo cơ chế liên ngành đồng bộ; nới lỏng điều kiện tiếp cận vốn vay tín dụng nhập khẩu nguyên phụ liệu.
  4. Các giải pháp bổ trợ: Ban hành chính sách ưu đãi đầu tư, tính thuế linh hoạt cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới máy móc; hỗ trợ xây dựng thương hiệu hàng dệt may xuất khẩu của tỉnh; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao (đặc biệt là khâu thiết kế, tạo mẫu, quản trị chuỗi cung ứng) thông qua liên kết giữa chính quyền, doanh nghiệp và các trường đại học, cao đẳng, trường nghề.

Chương này cũng đưa ra các kiến nghị phân cấp: đối với Chính phủ (đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ, mở rộng chính sách vay vốn ưu đãi); đối với Bộ Công Thương (hoàn thiện khung pháp lý xuất nhập khẩu, hỗ trợ ứng phó phòng vệ thương mại); đối với UBND tỉnh Thái Bình (tập trung đầu tư hạ tầng khu công nghiệp ven biển phục vụ dệt nhuộm tập trung, xây dựng hệ thống xử lý nước thải bảo vệ môi trường, phát huy vai trò kết nối của Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã phản ánh bức tranh toàn diện về năng lực xuất khẩu dệt may tỉnh Thái Bình thông qua các dữ liệu thực tế: kim ngạch dệt may năm 2020 đạt 909,63 triệu USD, chiếm 62,3% tỷ trọng toàn tỉnh; 9 tháng đầu năm 2021 phục hồi đạt 972,048 triệu USD; chỉ ra được tỷ trọng chi phối của 4 thị trường xuất khẩu trọng điểm (Hàn Quốc luôn dẫn đầu với trên 32–36%, kế tiếp là Hoa Kỳ trên 25–34%, Trung Quốc và Nhật Bản). Nghiên cứu cũng ghi nhận sự tăng trưởng năng suất lao động từ 10–20% tại một số đơn vị may nhờ cải tiến tổ chức sản xuất.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, tác giả tự khẳng định: trong khi phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận xuất khẩu dưới góc độ vi mô tại từng doanh nghiệp riêng lẻ hoặc nghiên cứu chính sách xuất khẩu nông sản tại các tỉnh lân cận (Hà Nam, Hà Tĩnh, Hải Dương), khóa luận là công trình chuyên sâu đầu tiên khảo sát, đánh giá một cách có hệ thống chính sách thúc đẩy xuất khẩu dệt may từ cấp độ cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Thái Bình. Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực về hệ thống văn bản chỉ đạo của địa phương (Nghị quyết 27/2016/NQ-HĐND, Quyết định 2171/QĐ-UBND, Nghị quyết 11/2019/NQ-HĐND, Quyết định 13/2020/QĐ-UBND) và đề xuất các giải pháp mang tính đặc thù cho Thái Bình, đặc biệt là định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ và quy hoạch khu công nghiệp ven biển để phát triển khâu dệt nhuộm khép kín.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Tác giả thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu của khóa luận:

  • Do giới hạn về nguồn lực và phạm vi đề tài, hệ thống giải pháp mới chỉ tập trung giải quyết việc hoàn thiện văn bản pháp lý, công tác quy hoạch và nâng cao hiệu lực quản lý thực thi chính sách chung của chính quyền địa phương.
  • Khóa luận chưa đi sâu lượng hóa chi tiết tác động của từng công cụ chính sách tài khóa hay chính sách tín dụng cụ thể lên biên lợi nhuận của các nhóm doanh nghiệp có quy mô khác nhau.

Trên cơ sở đó, văn bản nêu rõ hai hướng nghiên cứu tiếp theo cần được làm rõ trong các công trình tương lai:

  1. Nghiên cứu các giải pháp cấp bách và dài hạn nhằm thúc đẩy xuất khẩu dệt may của tỉnh Thái Bình trong bối cảnh phục hồi kinh tế trước và sau tác động của đại dịch Covid-19.
  2. Nghiên cứu chuyên biệt về chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của tỉnh Thái Bình thâm nhập cụ thể vào từng thị trường trọng điểm trên thế giới (như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc) dưới tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế học, Thương mại quốc tế: Cung cấp một khung phân tích tiêu chuẩn để đánh giá chính sách công cấp địa phương dựa trên 5 tiêu chí (hiệu lực, hiệu quả, công bằng, bền vững, phù hợp); tài liệu tham khảo tốt về phương pháp thống kê mô tả xuất khẩu cấp tỉnh.
  • Cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính sách tại các Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế và các cơ quan quản lý địa phương: Nắm bắt bức tranh tổng thể về cơ cấu thị trường, những vướng mắc thực tế của doanh nghiệp dệt may địa phương (thiếu nguyên phụ liệu, hạ tầng xử lý nước thải yếu kém, điện sản xuất thiếu ổn định) để tham mưu hoàn thiện quy hoạch cụm công nghiệp và chính sách xúc tiến thương mại.
  • Các doanh nghiệp dệt may trên địa bàn tỉnh Thái Bình: Tiếp cận hệ thống chỉ tiêu quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ, các mục tiêu kim ngạch đến năm 2025–2030 của tỉnh để xây dựng chiến lược sản xuất và chuyển dịch thị trường phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

1. Thị trường nào chiếm tỷ trọng xuất khẩu dệt may lớn nhất của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2017–2021?
Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của sản phẩm dệt may tỉnh Thái Bình xuyên suốt giai đoạn này. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 34,5% (năm 2017), 35,4% (năm 2018), 36,8% (năm 2019), 33,5% (năm 2020) và 32,3% (trong 9 tháng đầu năm 2021), luôn vượt qua thị trường đứng thứ hai là Hoa Kỳ.

2. Điểm nghẽn lớn nhất về hạ tầng kỹ thuật đối với sản xuất dệt may Thái Bình được tác giả chỉ ra là gì?
Khóa luận chỉ ra hai điểm nghẽn hạ tầng then chốt: thứ nhất, hệ thống xử lý rác thải và nước thải tại các khu công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghệ dệt hoàn tất (dệt nhuộm); thứ hai, hệ thống điện phục vụ sản xuất còn dùng chung với hệ thống điện sinh hoạt, dẫn tới tình trạng mất điện đột ngột gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chuỗi vận hành của nhà máy.

3. Khóa luận ghi nhận bao nhiêu doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ dệt may, da giày tại Thái Bình?
Toàn tỉnh Thái Bình có hơn 300 doanh nghiệp dệt may, da giày, trong đó có 44 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (gồm 5 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI và 39 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trong nước). Riêng ngành dệt có 41 doanh nghiệp hỗ trợ, phân bổ thành 23 doanh nghiệp dệt nhuộm và 18 doanh nghiệp sản xuất xơ sợi.

4. Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu dệt may của tỉnh Thái Bình đặt ra đến năm 2025 là bao nhiêu?
Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016–2025, định hướng đến năm 2030 (được phê duyệt tại Nghị quyết số 27/2016/NQ-HĐND), mục tiêu đến năm 2025 là tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may trên địa bàn tỉnh đạt 1.870,61 triệu USD, tương ứng tốc độ tăng trưởng bình quân 4,5%/năm.

5. Vì sao phần lớn doanh nghiệp dệt may Thái Bình chưa tự chủ được nguồn nguyên phụ liệu?
Hầu hết các doanh nghiệp dệt may của tỉnh chủ yếu hoạt động theo hình thức gia công xuất khẩu (CMT). Do đó, toàn bộ nguồn nguyên phụ liệu sản xuất đều do đối tác nhập khẩu nước ngoài chỉ định hoặc trực tiếp cung cấp, doanh nghiệp trong tỉnh không có quyền tự quyết lựa chọn nguồn cung ứng, dẫn đến sự phát triển chậm của chuỗi công nghiệp hỗ trợ nội địa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Hoàng Yến đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với xuất khẩu hàng hóa và làm rõ thực trạng xuất khẩu dệt may tỉnh Thái Bình giai đoạn 2017 đến 9 tháng đầu năm 2021. Công trình phân tích khách quan cả thành tựu về tăng trưởng kim ngạch lẫn những nút thắt cố hữu về chính sách ngắn hạn, hạ tầng dệt nhuộm và sự phụ thuộc nguyên liệu của địa phương. Trên cơ sở mục tiêu quy hoạch đến năm 2025 và 2030, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện từ khâu hoạch định, cải cách thủ tục, đầu tư hạ tầng ven biển đến đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao giá trị và tính bền vững cho ngành dệt may Thái Bình.