phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về chính sách thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng chính sách thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài gắn với mục tiêu đảm bảo an ninh kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài gắn với mục tiêu đảm bảo an ninh kinh tế. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu 1.
Các nghiên cứu nước ngoài FDI và sự liên quan của FDI đến an ninh kinh tế đã trở thành một xu thế mạnh mẽ và phổ biến trên thế giới, do vậy cũng có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả, nhà nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể ra một số công trình sau: Cosmin Gabriel Bolea (2014) trong nghiên cứu của mình đã lựa chọn Châu Mỹ Latinh làm địa bàn nghiên cứu cho đề tài về mối quan hệ giữa FDI và an ninh kinh tế. Bằng các phƣơng pháp nghiên cứu kinh tế lƣợng phân tích các biến số: hệ số GINI, tỉ lệ tham nhũng… tác giả đã chỉ ra, tại các quốc gia đang phát triển nhƣ khu vực Mỹ Latinh, FDI càng tăng thì càng dẫn đến chỉ số GINI tăng hay chỉ số tham nhũng cũng tăng. Anna Strelchuk (2012) đã nghiên cứu mối quan hệ tác động của FDI đến tăng trƣởng kinh tế tại Ucraina, mục đích của nghiên cứu này là kiểm tra ảnh hƣởng của các hình thức xâm nhập của FDI khác nhau đối với tăng trƣởng kinh tế của các khu vực Ucraina.
Phân tích thực nghiệm đƣợc thực hiện bằng cách sử dụng dữ liệu về các khu vực Ucraina trong khoảng thời gian 2000-2008. Ba kỹ thuật ƣớc tính đã đƣợc sử dụng trong việc kiểm tra mô hình chức năng sản xuất và mô hình tăng trƣởng: OLS, ƣớc tính hiệu ứng cố định và GMM. Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng cả hai hình thức đầu tƣ FDI đều có lợi cho tăng trƣởng kinh tế của các khu vực Ucraina. Do đó, chính phủ nên thực hiện các chính sách kinh tế nhắm vào kích thích dòng vốn FDI, chứ không cần quan tâm quá nhiều đến hình thức đầu tƣ FDI.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nghiên cứu trong nước Trong nƣớc cũng có nhiều học giả quan tâm và nghiên cứu về vấn đề này, có thể chia lĩnh vực nghiên cứu nhƣ sau: Thứ nhất, về chủ đề FDI và thu hút FDI Theo Nguyễn Thị Mai Hƣơng và Trần Thị Mơ (2014) đã chỉ ra những đóng góp tích cực của ĐTNN đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên những hạn chế. Từ đó đề xuất giải pháp về chính sách nhằm giải quyết những tồn tại và hạn chế trong quá trình thu hút và sử dụng vốn ĐTNN. Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Việt và các cộng sự (2014), với mô hình nghiên cứu đinh lƣợng Stata đã chỉ ra thể chế thực thi của các địa phƣơng có tác động mạnh mẽ đến khả năng thu hút FDI trong khi những thể chế hỗ trợ không có tác động.
Những phát hiện này rất hữu ích cho các địa phƣơng trong quá trình thực hiện chính sách FDI của mình. Thứ hai, về các chính sách thu hút FDI Theo Nguyễn Thị Tuệ Anh (2012) đã đánh giá thực trạng và hiệu quả đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt nam từ năm 1988 đến 2013; Đánh giá thực trạng chính sách đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt nam, phân tích đánh giá nội dung các chính sách thu hút, sử dụng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài; Dự báo triển vọng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài; rồi từ đó đề xuất các quan điểm, định hƣớng và giải pháp điều chỉnh nội dung chính sách đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Trong Chiến lƣợc và định hƣớng chiến lƣợc thu hút FDI thế hệ mới (2018), giai đoạn 2018-2030 của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ đã đề cập và chỉ rõ thực trang của FDI tại Việt Nam trong tình hình mới và những cần thiết điều chỉnh những chính sách cho phù hợp với từng giai đoạn. Mới đây nhất, Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hƣớng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hợp tác đầu tƣ nƣớc ngoài đến năm 2030.
Đây có thể coi là định hƣớng quan trọng, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể hiện sự thay đổi về cách đánh giá của Đảng về vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, về định hƣớng thu hút FDI thế hệ mới. Thứ ba, các nghiên cứu về an ninh kinh tế. Theo Trần Trọng Toàn (2014) đã phân tích về an ninh kinh tế với tƣ cách là một bộ phận cấu thành của an ninh quốc gia. Tác giả khẳng định một trong những nội dung của an ninh kinh tế là phải đảm bảo đƣợc việc làm và sự cân bằng của các vùng ở mỗi quốc gia và giữa các quốc gia trong khu vực.
Vũ Quang Minh (2014) đã phân tích về an ninh kinh tế trên hai phƣơng diện: An ninh cho nền kinh tế quốc dân nhƣ một phần của an ninh quốc gia và kinh tế nhƣ một công cụ của đảm bảo an ninh quốc gia. Khoảng trống nghiên cứu Dù có nhiều nghiên cứu về tình hình thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, tuy nhiên, hầu nhƣ chƣa có nghiên cứu nào đi sâu đến mối liên hệ, tác động giữa thu hút FDI với an ninh kinh tế. Vì vậy, học viên lựa chọn việc nghiên cứu chính sách thu hút FDI gắn với mục tiêu an ninh kinh tế, và giới hạn phạm vi nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Bắc Ninh. Cơ sở lý luận về chính sách thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài gắn với đảm bảo an ninh kinh tế 1.
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài của Việt Nam, sửa đổi năm 1996: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành đầu tƣ theo luật này”. Ngoài ra cũng có một số định nghĩa về vốn FDI đã đƣợc thừa nhận rộng rãi nhƣ: Vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là nguồn vốn thuộc sở hữu ngoại quốc của các tài sản nhƣ nhà máy, mỏ, khoáng sản và đất đai ở các nƣớc, nhƣng không bao gồm chứng khoán. Cũng có thể hiểu vốn đầu tƣ trực tiếp là các 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thức đầu tƣ dài hạn của cá nhân hay công ty này đầu tƣ vào nƣớc khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh, trong đó cá nhân hay công ty nƣớc ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này ở nƣớc đầu tƣ. Theo quan điểm của IMF đƣa ra năm 1977: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ám chỉ số đầu tƣ đƣợc thực hiện để thu đƣợc lợi ích lâu dài trong một hãng hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tƣ, mục đích của nhà đầu tƣ là giành đƣợc tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý hãng đó”.
Theo Hiệp hội Luật quốc tế Henxitiky (1996): “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là sự di chuyển vốn từ nƣớc của ngƣời đầu tƣ sang nƣớc của ngƣời sử dụng nhằm xây dựng ở đó những xí nghiệp kinh doanh hay dịch vụ”. Tổ chức thƣơng mại thế giới WTO cũng đƣa ra định nghĩa nhƣ sau về FDI: “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc thực hiện khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (nƣớc đầu tƣ) có đƣợc tài sản do đầu tƣ mà có ở một nƣớc khác (nƣớc thu hút đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phƣơng diện quản lý trực tiếp là dấu hiệu để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác nhƣ chứng khoán, tín dụng”. Nhƣ vậy có thể thấy, mục đích sinh ra, tồn tại và phát triển của FDI chính là lợi ích, lợi ích cho quốc gia nhận đầu tƣ, và trên hết là lợi ích cho quốc gia mang vốn đi đầu tƣ.
Việc di chuyển FDI (vốn hoặc công nghệ) đƣợc quyết định chính bởi lợi ích mà nó mang lại cho nhà đầu tƣ, và vì thế, nếu nhà đầu tƣ chỉ đặt mục tiêu kinh doanh lên hàng đầu, thì ẩn chứa nhiều nguy cơ cho đất nƣớc nhận đầu tƣ, trong đó, hàng đầu là vấn đề an ninh kinh tế và phát triển bền vững. Về bản chất, FDI mang những đặc điểm chủ yếu: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ nhất, về các chủ thể đi đầu tƣ và việc lựa chọn nhà đầu tƣ, hiện nay trên thế giới, khu vực các quốc gia mang vốn đầu tƣ ra nƣớc ngoài bao gồm nhiều nƣớc với các trình độ phát triển khác nhau. Với mỗi một trình độ phát triển khác nhau thì cách thức quốc gia đó đầu tƣ tại nƣớc ngoài cũng khác nhau, cũng nhƣ đi kèm sự khác biệt về khoa học công nghệ. Các quốc gia nhận đầu tƣ nƣớc ngoài ở những giai đoạn đầu, mục tiêu là thu hút vốn, do bản thân nền kinh tế yếu kém của các quốc gia này không tích lũy đủ lƣợng vốn cần thiết, nên trọng tâm là thu hút càng nhiều quốc gia đầu tƣ với số vốn nhiều thì càng tốt.
Tuy nhiên, ở giai đoạn sau, thì mục đích khi thu hút vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ là những hiệu ứng lan tỏa, những biến đổi về cơ cấu kinh tế của quốc gia đó. Chính vì vậy, việc thu hút FDI nên cân nhắc từ trình độ và phƣơng thức kinh doanh của các quốc gia mang vốn đi đầu tƣ. Điều này ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững của các quốc gia nhận đầu tƣ. Vì vậy, việc các quốc gia muốn thu hút FDI cần làm, đó là xây dựng một hệ thống quản lý và khung pháp lý chặt chẽ, đảm bảo tính minh bạch, vừa để thu hút vốn từ các khu vực phát triển, vừa đảm bảo có chế tài xử lý vi phạm của các nhà đầu tƣ.
Điều này giúp đảm bảo cho nền kinh tế có thể tránh những vấn đề sai phạm từ phía nhà đầu tƣ gây ra. Thứ hai, mục đích cao nhất của các đầu tƣ là lợi nhuận.