Chương 1: Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Trong chương này tác giả trình bày về FDI là gì? đặc điểm của FDI, các hình thức FDI, lợi ích của FDI, các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI. Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu đề xuất để tiến hành nghiên cứu. Chương 2: Phân tích thực trạng hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào tỉnh Bến Tre trong giai đoạn vừa qua.
Trong chương này tác giả trình bày về tổng quan tỉnh Bến Tre, thực trạng hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào tỉnh Bến Tre và kết quả nghiên cứu. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư FDI vào tỉnh Bến Tre trong thời gian tới. Trong chương này tác giả trình bày cơ sở đề xuất giải pháp, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư FDI vào tỉnh Bến Tre trong thời gian tới. SVTH: Trần Minh Tâm Trang 10 Luận văn tốt nghiệp TÓM TẮT PHẦN NỘI DUNG Trong phần này, tác giả trình bày các mục tiêu nghiên cứu của đề tài như: (1) Đánh giá thực trạng hoạt động đầu tư FDI của tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 1987 đến tháng 6/2015; (2) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư nước ngoài vào tỉnh Bến Tre; (3) Đề xuất một số giải pháp để thu hút đầu tư hiệu quả trong thời gian tới.
Đồng thời, phần này cũng trình bày tổng quan tài liệu và kết cấu của đề tài. SVTH: Trần Minh Tâm Trang 11 Luận văn tốt nghiệp PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 PHƢƠNG PHÁP LUẬN 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về FDI (Foreign direct investment) Vốn đầu tư là yếu tố vật chất quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Nguồn vốn trong nước không thể đảm bảo cho nhu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển. Chính vì vậy, mỗi quốc gia đều phải bổ sung nguồn vốn cho mình bằng cách thu hút vốn từ bên ngoài.
FDI là một trong những kênh thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, có rất nhiều tổ chức đưa ra khái niệm về FDI như sau: Theo tổ chức thương mại Thế giới (WTO) thì cho rằng “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty” [28]. Theo Luật đầu tư 2014 của Việt Nam thì cho rằng: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nưới ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tư” [6]. Theo tổ chức tiền tệ Thế giới (IMF) đã đưa ra định nghĩa FDI vào năm 1977 như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường [28].
SVTH: Trần Minh Tâm Trang 12 Luận văn tốt nghiệp Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia (2014), đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất, kinh doanh này [28]. Tóm lại, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được xem xét ở hai khía cạnh khác nhau: - Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một loại hình đầu tư dài hạn. - Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài là người trực tiếp quản lý, điều hành sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi ích từ kết quả sản xuất, kinh doanh căn cứ vào mức độ góp vốn.2 Đặc điểm của FDI Đây là hình thức đầu tư mà các nhà đầu tư nước ngoài tự mình ra quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nước nhận đầu tư [27].
Nhà đầu tư nước ngoài tham gia điều hành hoặc điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư mặc dù thường có bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa với nước nhận đầu tư. Vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ [27]. Nước nhận đầu tư tiếp nhận được công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài thông qua các chương trình đào tạo hoặc qua việc trực tiếp tham gia quản lý [27]. Nhà đầu tư nước ngoài sau một thời gian đầu tư, họ có thể mở rộng đầu tư bằng nguồn lợi nhuận thu được của dự án đầu tư [27].3 Các hình thức của FDI Hiện nay, có rất nhiều hình thức của FDI tùy vào từng gốc độ tiếp cận.
Dưới đây là một số hình thức FDI: a) Phân theo bản chất đầu tƣ Đầu tư phương tiện hoạt động Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào [28]. SVTH: Trần Minh Tâm Trang 13 Luận văn tốt nghiệp Mua lại và sáp nhập Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào [28].
b) Phân theo tính chất dòng vốn Vốn chứng khoán Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty [28]. Vốn tái đầu tư Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm [28]. Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau [28]. c) Phân theo động cơ của nhà đầu tƣ Vốn tìm kiếm tài nguyên Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên giá rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động dồi dào.
Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh [28]. Vốn tìm kiếm hiệu quả Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện SVTH: Trần Minh Tâm Trang 14 Luận văn tốt nghiệp nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, điều kiện pháp lý,.
Vốn tìm kiếm thị trường Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữa thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa các nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu [28].2 Các lý thuyết liên quan đến đầu tƣ 1.1 Lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo Hymer (1976), khi đầu tư ra nước ngoài các DN đầu tư trực tiếp nước ngoài chịu nhiều chi phí và rủi ro hơn các DN nước sở tại. Để cạnh tranh với các DN này, Doanh nghiệp FDI phải có những lợi thế để bù đắp được những chi phí phụ trội đó. Lợi thế đó là sức mạnh độc quyền ở một số mặt như: quy mô, kiến thức, sự khác biệt của sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm, công nghệ, mạng lưới phân phối và kỹ năng tiếp thị, khả năng tiếp cận với những nguồn vốn rẻ [18].
Theo Dunning (1976), một DN chỉ đầu tư trực tiếp nước ngoài khi hội tụ ba điều kiện: i) sở hữu: DN phải sở hữu một lợi thế so sánh với DN khác như quy mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản vô hình đặc thù của DN; ii) nội vi hóa: việc sử dụng những lợi thế đó trong nội bộ ND có lợi hơn là bán hay cho các DN khác thuê; iii) Địa điểm: sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư có chi phí thấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi xuất khẩu. lợi thế địa điểm có được nhờ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, các rào cản thương mại, chính sách khuyến khích đầu tư và cả những tác động ngoại vi mà địa điểm có thể tạo ra cho DN khi hoạt động tại đó. Các DN có xu hướng xác định vị trí sản xuất của mình ở những nơi “trung tâm” đông đúc dân cư và vốn, vì tận dụng được lợi thế nhờ quy mô. Nhưng việc này sẽ dẫn tới dân cư – vừa là người cung cấp vừa là người tiêu dùng – sẽ càng di chuyển tới những “trung tâm” này vì ở đó có lợi thế quy mô cao hơn, cũng có nghĩa là giá cả hàng hóa rẻ hơn và sản phẩm đa dạng hơn [17].
SVTH: Trần Minh Tâm Trang 15 Luận văn tốt nghiệp 1.