CHƯƠNG I LUẬN CỨ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ -- Mục đích của chương này là xây dựng khung lý thuyết cho bài Nghiên cứu khoa học căn cứ vào các công trình nghiên cứu, các bài báo cáo hàng năm của các tổ chức kinh tế lớn, các tác giả có uy tín trên thế giới. Từ các công trình trên, xác định các yếu tố chung tác động đến chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các quốc gia trên thế giới. Tuy các quốc gia có sự khác nhau trong chính sách để có thể thu hút đầu tư, nhưng vẫn có những điểm tương đồng. Vì vậy, thông qua tổng hợp, phân tích các nghiên cứu trước đây, sau đó đối chiếu lại dựa trên nghiên cứu trường hợp của một số quốc gia khác và của Myanmar để đưa ra mô hình cho bài nghiên cứu.
Cơ sở lý luận Khái niệm về chính sách thu hút đầu tư Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization - WTO) đưa ra định nghĩa như sau về FDI: "Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
10 Khái niệm chính sách thu hút đầu tư trực tiếp ngước ngoài có thể nói là các hệ thống chiến lược, kế hoạch và biện pháp thực hiện thích hợp của một quốc gia đưa ra và áp dụng với mục đích là có thể kiểm soát các hoạt động thu hút vốn FDI một cách có hiệu quả và sử dụng nguồn vốn đó vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho người lao động và phát triển đất nước. 10 Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung Ương Việt Nam, (2010), Nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, CIEM Trung tâm Thông tin – Tư liệu 12 Có thể nói, trong thời kỳ toàn cầu hóa, FDI trở thành một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt đối với các quốc gia nghèo và đang phát triển. Hoạt động thu hút FDI và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (Outward Foreign Direct Investment OFDI) góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thương mại giữa các quốc gia. Vì vậy, các quốc gia luôn có những chính sách để thu hút nguồn vốn này nhiều hơn bằng các ưu đãi cụ thể và những cam kết dành cho các nhà đầu tư nước ngoài của chính phủ.
Các yếu tố khuyến khích đầu tư dựa trên lý thuyết chung của các bài nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu của Ecorys về “Exchange of good pratice in foreign direct investment promotion” vào năm 2009, đã đưa ra một số yếu tố mà các quốc gia trên thế giới thường áp dụng thể thu hút vốn FDI bao gồm: Chính sách tiề n tê ̣ và chính sách thuế bao gồm miễn, giảm thuế đối với thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn, giảm các loại thuế thu nhập khác; miễn hoặc giảm thuế tư liệu sản xuất nhập khẩu (vốn); miễn thuế đối với việc chuyển nhượng bản quyền; miễn các loại thuế và chi phí khác ví dụ như cấp quyền hoa ̣t đô ̣ng, các khoản tín dụng bao cấp và bảo hiểm của chính phủ với lãi suất ưu đãi, khuyến khích và ưu đãi thị trường. Yếu tố này có thể coi là quan trọng vì nó là một trong những yếu tố ảnh hưởng đế n sự ổ n đinh ̣ của các nhà đầ u tư vì các doanh nghiệp nước ngoài sẽ rất nhạy cảm với các chính sách trong khi cân nhắc việc chuyển đổi nơi sản xuất để giảm tối thiểu giá hành. Vấn đề này được các doanh nghiệp quan tâm hơn cả việc khai thác thị trường. Ngoài ra, tài liệu còn đề cập đến những chin ́ h sách về thuê và sử du ̣ng đấ t như cần đa dạng hoá các hình thức tiếp cận đất đai thông qua các Tổ chức phát triển quỹ đất để làm giảm nhẹ áp lực, sự phức ta ̣p lên những nhà đầ u tư về vấ n đề đấ t đai, hay những quyền và thời hạn các nhà đầu tư có thể thuê và sự dụng đất ở một quốc gia.
Tác giả Henry Loewendahl trong bài nghiên cứu “A framework for FDI promotion” cũng có đề cập đến chính sách tiền tệ và thuế như nghiên cứu của Ecorys, nhưng ông đã bổ sung thêm những yếu tố quyết định chính sách thu hút FDI của các quốc gia như: các chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm các chế đô ̣ thanh toán và thương ma ̣i tự do, không có nhiề u sự can thiê ̣p của nhà nước lên nề n kinh tế , những chế độ ưu đãi và không phân biệt đối xử đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, không có xự phân biệt đối xử giữa quốc gia này với quốc gia khác, nhà nước khi khuyế n khić h các 13 doanh nghiê ̣p đầ u tư, kinh doanh vào các liñ h vực có lơ ̣i cho nhà nước thì sẽ kèm theo những ưu đaĩ có lơ ̣i cho doanh nghiê ̣p; thủ tục hành chính mang tính thống nhất, đơn giản trong đó bao gồm quá trình và thời gian xin giấy phép đầu tư, những giấy tờ cần thiết, vốn tối thiểu và những cam kết khác và quan trọng hơn là các nhà đầ u tư nước ngoài đa số đề u muố n có sự đô ̣c lâ ̣p trong viê ̣c kiể m soát vố n đầ u tư, trong tổ chức và quản lý doanh nghiê ̣p của miǹ h. Tác giả còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Cơ quan xúc tiến đầu tư ở các quốc gia vì nó cũng góp phần làm cho quá trình đầu tư của các doanh nghiệp diễn ra thuận lợi hơn. Năm 2003, trong “Checklist for Foreign Direct Investment Incentive Policies” của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), bên cạnh các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai thì để có thể thu hút FDI thì chính phủ các nước sẽ trợ cấp cho các nhà đầu tư về cơ sở vật chất, hạ tầng và đào tạo nghề cho người lao động. Thêm vào đó, các khoản khuyến khích của chính phủ về tính dụng cho các nhà đầu tư, các nhà chức trách có thể chọn cấp các khoản vay hoặc lãi suất mềm trợ cấp cho các doanh nghiệp nước ngoài cho các mục đích cụ thể của một khoản đầu tư dự án.
Đề khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài, chính phủ hoặc các cơ quan địa phương cũng có bán đất hoặc các tòa nhà để các nhà đầu tư nước ngoài mua ở mức dưới giá trị thị trường. Theo OECD, hiện nay một số quốc gia vẫn cung cấp cho các nhà đầu tư một số ưu đãi về tài chính như: - Giảm thuế trực tiếp của công ty. Các biện pháp chung nhằm giảm bớt gánh nặng thuế doanh nghiệp được sử dụng để thu hút các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bao gồm: Giảm tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp và miễn giảm thuế theo chu kỳ, ví dụ "các công ty mới thành lập" không bắt buộc phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong một thời điểm xác định.
- Ưu đãi đối với sự hình thành vốn như trợ cấp đầu tư đặc biệt qua khấu hao nhanh hay nâng cao khấu trừ; các khoản thuế tín dụng; lợi nhuận tái đầu tư. - Thuế ngoại thương. Giảm thuế nhập khẩu và thuế hải quan (và trong một số trường hợp thuế xuất khẩu). - Thuế của nhân viên.
Thuế thu nhập cá nhân thấp hơn hoặc an sinh xã hội giảm cho giám đốc điều hành và nhân viên nước ngoài được sử dụng để làm địa điểm hấp dẫn hơn cho người nước ngoài. 14 Theo Magnus Blomstrom & Ari Kokko trong bài nghiên cứu “The economics of foreign direct investment incentives” thì ở các nước công nghiệp phát triển nơi khuyến khích tài chính được phổ biến hơn, các khoản trợ cấp cho mỗi công việc liên quan đến FDI thường đạt hàng chục hàng ngàn đô la Mỹ. Ngoại trừ các khu chế xuất và khu công nghiệp, nơi cơ sở hạ tầng và đất được trợ giá, các nước đang phát triển có nhiều khả năng căn cứ của họ chương trình ưu đãi về miễn thuế và các biện pháp tài chính khác mà không yêu cầu trực tiếp các khoản thanh toán của quỹ công khan hiếm. Tiểu kết: phần lớn các tài liệu trên đều chỉ ra những yếu tố mà các quốc gia trên thế giới dùng để thu hút nguồn vốn FDI.
Tuy có điểm khác nhau giữa các tài liệu, nhưng chúng ta vẫn thấy được có những chính sách cùng xuất hiện ở tất các các công trình nghiên cứu, các chính sách cụ thế như là: chính sách ưu đãi tài chính, sử dụng đất đai và thủ tục hành chính. Các nghiên cứu này vẫn chỉ nêu ra khái quát chung, chưa nêu ra được trường hợp áp dụng cụ thể với từng quốc gia hoặc từng thời điểm áp dụng khác nhau. Những nghiên cứu này sẽ là nguồn tư liệu giúp cho chúng tôi xác định các chính sách chính tác động đến việc thu hút vốn FDI một cách dễ dàng và cụ thể hơn, góp phần xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp với trường hợp của quốc gia Myanmar. Các yếu tố ưu đãi đầu tư dựa trên một số chính sách thu hút đầu tư của một số quốc gia cụ thể Theo Masami Ashada trong công trình nghiên cứu “Attracting FDI: Experiences of East Asean countries ” thì các yếu tố ưu đãi, khuyến khích đầu tư ở Malaysia bao gồm: - Ưu đãi thuế thu nhập cho doanh nghiệp được thể hiện rõ với mục đính định hướng xuất khẩu và đồng thời cho phép đầu tư với 100% vốn nước ngoài.
Các công ty có thể được giảm 10% giá thêm vào của mặt hàng xuất khẩu, 5% giá đầu vào sản xuất trong nước đối với hàng hóa xuất khẩu - Ngoài ra, Malaysia còn có các ưu đãi cho các doanh nghiệp được công nhận là “tiên phong” trong bất cứ ngành nghề hay lĩnh vực đầu tư bằng việc kéo dài thời gian miễn giảm thuế cho doanh nghiệp từ 5 năm thành 10 năm. - Chính phủ Malaysia cũng có những ưu đãi đối với các kế hoạch đầu tư liên quan đến bảo vệ môi trường hay phát triển cơ sở hạ tầng.