CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm chính sách quản lý đất đai và thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Chính sách công là sự tập hợp những quyết định chính trị có liên quan của Đảng, Nhà nước để chọn lựa mục tiêu, công cụ và giải pháp thực hiện nhằm giải quyết vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định (TS Đỗ Phú Hải, 2012, 2014 - Tập bài giảng Khoa học Chính sách công). Vì vậy, chính sách công được hiểu là một tập hợp những quyết định chính trị liên quan của Đảng, Nhà nước để chọn lựa mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn của xã hội, đóng góp vào việc thực thi mục tiêu tổng thể đã được xác định.
QLNN vốn dĩ là hoạt động nhằm thực hiện quyền lực của Nhà nước do hệ thống cơ quan nhà nước tổ chức thực hiện để xác lập một môi trường ổn định và phát triển xã hội theo hệ mục tiêu mà giới cầm quyền đang theo đuổi. QLNN bao hàm sự vận hành tất cả các hoạt động của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước cả lập pháp, hành pháp và tư pháp trong một chỉnh thể thống nhất. Hoạt động chấp hành và điều hành quản lý hành chính do khối hành pháp (hệ thống cơ quan hành chính nhà nước) tổ chức thực hiện và được bảo đảm thông qua công cụ cưỡng chế của Nhà nước. Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động, công cụ quản lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, mục đích sử dụng 7 đất, hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, trưng dụng đất, giá đất; thống kê, kiểm kê đất đai; quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, chính sách tài chính về đất đai; công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, đánh giá, tổng kết,…; quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Khái niệm chính sách quản lý nhà nước đất đai và thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai Chính sách QLNN về đất đai được hiểu là sự tập hợp những quyết định của Nhà nước để chọn lựa mục tiêu và giải pháp giải quyết những vấn đề thực tiễn trong quản lý sử dụng tài nguyên đất một cách khoa học, hiệu quả và tiết kiệm nhằm đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững về KT- XH. Việc tổ chức thực thi chính sách quản lý đất đai, đó là toàn bộ quá trình tổ chức chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách quản lý đất đai trở nên hiện thực. Thực hiện chính sách QLNN về đất đai là hoạt động của hệ thống các cơ quan QLNN có thẩm quyền nhằm thực thi đầy đủ quyền đại diện chủ sở hữu đất đai và thống nhất QLNN về đất đai; đó bao gồm là: việc sử dụng công cụ, phương pháp quản lý để tổ chức triển khai những nội dung của chủ thể chính sách, chủ thể quản lý về quy hoạch và kế hoạch SDĐ, về mục đích SDĐ; về chính sách tài chính đất đai và giá đất; hạn mức SDĐ và thời hạn SDĐ; quyết định cấp quyền SDĐ cho chủ thể SDĐ, quy định nghĩa vụ và quyền của người SDĐ; việc trưng dụng đất, thu hồi đất… 1. Chủ thể thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai Luật Đất đai năm 2013 đã quy định rõ về nguyên tắc công khai và dân chủ trong việc lập quy hoạch và kế hoạch SDĐ; quy định về lợi quyền của người SDĐ ở trong vùng quy hoạch.; 8 Do đất đai có vai trò quan trọng nên quốc gia nào cũng cần phải tổ chức cho hợp lý hệ thống quản lý đất đai của nước mình nhằm mục đích phát triển kinh tế, xã hội.
Các chủ thể thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai có thể là cơ quan nhà nước, có thể là tổ chức. Các chủ thể thực hiện chính sách QLNN về đất đai gồm có hai loại: - Những cơ quan đại diện của Nhà nước theo cấp hành chính lãnh thổ để thực thi quyền QLNN về đất đai ở địa phương, đó là UBND các cấp và những cơ quan chuyên môn về lĩnh vực ngành quản lý tài nguyên đất ở các cấp. - Các chủ thể thực hiện chính sách QLNN về đất đai là các tổ chức như Ban quản lý khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Các chủ thể này tuy không trực tiếp SDĐ, nhưng lại được Nhà nước cho phép thay mặt để tổ chức thực thi quyền quản lý đất.
Do đó, những tổ chức này được Nhà nước giao cho quyền đại diện (thay mặt Nhà nước) để cho thuê đất gắn liền với các cơ sở hạ tầng trên đất trong các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Các ban quản lý khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế cũng là đối tượng quản lý của Nhà nước trong quản lý về đất đai. Trong hệ thống hoạt động QLNN, yêu cầu phải giải quyết hiệu quả về mối liên hệ giữa ba bộ phận: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống tổ chức bộ máy và con người. Trong mối liên hệ giữa ba bộ phận này để tổ chức thực thi chính sách QLNN về đất đai thì yếu tố con người là quan trọng nhất.
Vì con người chính là đối tượng làm ra văn bản, mà cũng là đối tượng tổ chức hệ thống tổ chức bộ máy. Vì vậy, trong hệ thống thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai luôn cần những con người có đầy đủ năng lực và phẩm chất để làm ra các văn bản phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, của đất nước, phù hợp với xu thế của thời đại. Con người (nhân sự) vừa là nhân tố thiết kế nên các chính sách và cũng vừa là nhân tố tổ chức thực hiện chính sách nhằm điều hành hoạt động của bộ 9 máy đồng bộ và hiệu quả. Một khi dù là chính sách đưa ra phù hợp thực tiễn, song yếu tố con người lại không đủ trình độ, kỹ năng hoặc không đủ phẩm chất để thực thi chính sách thì dẫn tới tình trạng sự vận hành của bộ máy sẽ không đồng bộ và cũng không hiệu quả.
Với yếu tố hệ thống tổ chức bộ máy quản lý thì nên dựa trên cơ sở của yếu tố con người (nhân sự) và hệ thống các chính sách để tiến hành tổ chức mô hình về cơ cấu bộ máy có khả năng vận hành đem lại hiệu quả. Tổ chức bộ máy quản lý không chỉ phải tuân thủ thi hành đúng với chính sách, mà còn đòi hỏi quan trọng là phải tổ chức sắp xếp hợp lý yếu tố con người sẵn có (nhân sự) trong hệ thống quản lý. Căn cứ vào trình độ, năng lực và tính cách của mỗi cá nhân để phân công bố trí giao nhiệm vụ phù hợp trong từng bộ phận thuộc hệ thống bộ máy quản lý. Muốn cho hệ thống hoạt động đồng bộ thì bên cạnh yếu tố con người (nhân sự) và các chính sách tốt thì cần phải tổ chức bộ máy phải hợp lý và tinh gọn, đó cũng là sự sắp xếp bố trí từng cá nhân phù hợp trong bộ máy quản lý.
Việc thiết kế hợp lý về hệ thống tổ chức bộ máy thực thi chính sách QLNN về đất đai, chúng có vai trò cốt lõi để vận hành đồng bộ hệ thống quản lý đất đai đạt hiệu quả cao. Một khi bộ máy quản lý đất đai vận hành một cách nhịp nhàng thì nó sẽ tạo ra một kết quả rất lớn trong việc thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai. Tuy nhiên đối với thể chế chính trị của mỗi nước thì lại có một hệ thống quản lý đất đai riêng phù hợp với trình độ dân trí và điều kiện địa lý của nước đó. Trong mỗi hệ thống thì các yếu tố cơ bản để cấu thành hệ thống là giống nhau nhưng sự khác nhau của mỗi hệ thống chính là chính sách của mỗi nước, dẫn đến tổ chức bộ máy khác nhau.
Nội dung thực hiện chính sách quản lý nhà nước về đất đai Đây là sự tổng hợp về mọi hoạt động của hệ thống cơ quan QLNN về đất đai. Đó chính là những hoạt động: Tổ chức triển khai chính sách đất đai; Về 10 việc nắm chắc và quản lý tình hình quá trình SDĐ; Về việc phân bổ quỹ đất vào những mục đích SDĐ theo chủ trương, chính sách của Nhà nước; Về việc giám sát, kiểm tra quá trình SDĐ. Để có thể đạt mục tiêu quản lý một cách hiệu quả, Nhà nước cần đòi hỏi phải thiết lập được một hệ thống các cơ quan quản lý về tài nguyên đất có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền theo sự phân cấp rõ ràng gắn với trách nhiệm từng cấp, từng đầu mối nhằm thực thi có hiệu, lực hiệu quả. Mặt khác, Nhà nước phải ban hành đầy đủ hệ thống chính sách, có thể chế minh bạch và phù hợp với từng thời kỳ phát triển để đáp ứng tốt các nội dung thực thi chính sách QLNN về đất đai.
Các quy định cụ thể: về quyền và nghĩa vụ SDĐ, về thủ tục cấp chứng nhận quyền SDĐ, về quyền sở hữu nhà ở và tài sản trên đất. Qua những lần sửa đổi, pháp luật về đất đai cũng đã bổ sung một số quy định về những trường hợp đăng ký biến động, đăng ký lần đầu. Để minh bạch hóa chính sách đất đai, Luật còn quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất và bồi thường, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Bên cạnh đó, xác định rõ nguyên tắc định giá đất phù hợp với thị trường, quy định khung giá đối với từng loại đất, theo từng vùng; quy định bảng giá đất được xây dựng định kỳ và công bố công khai.
Để bảo đảm công tác thông tin về đất đai, Luật đã dành một chương quy định cụ thể về vấn đề này, theo đó, công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong quản lý và sử dụng đất đai.