Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về chính sách công Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chủ thể, nó bao gồm các mục tiêu mà chủ thể muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó.
Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Chính sách công (public policy) được tiếp cận nghiên cứu từ những giác độ khoa học khác nhau theo đó có những cách hiểu, xác định không hoàn toàn giống nhau về khái niệm và các thuộc tính của chính sách công, Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến. Có thể nêu ra một số quan niệm sau: - Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và không làm (Thomas R. - Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971).
- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978). Nhìn vào thực tiễn của nước ta có thể thấy: Chính sách công là sự cụ thể hóa 7 các chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các quyết định về chính sách công là những quyết định chính trị bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Chính sách công tập trung giải quyết các vấn đề xã hội đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách.
Từ các phân tích trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề nổi cộm trong cuộc sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững. Các giai đoạn chính của quá trình chính sách - Hoạch định chính sách với các bước cụ thể là: + Lập chương trình (Agenda setting); + Hình thành chính sách (Policy formulation); + Thông qua chính sách (Policy adoption). - Thực hiện chính sách (Policy implementation): Để tổ chức thực hiện chính sách, người ta có thể tuân thủ theo các bước sau: + Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách; + Phổ biến tuyên truyền chính sách; + Phân công, phối hợp triển khai thực hiện chính sách; + Giám sát, đôn đốc thực hiện chính sách; + Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách; - Đánh giá chính sách (Policy evaluation): Trong giai đoạn này, các đơn vị chức năng như thanh tra, kiểm toán xác định xem các cơ quan thực thi chính sách có đáp ứng yêu cầu, tuân thủ quy định pháp lý, và đạt được các mục tiêu của chính sách không. Theo nghĩa này thì đánh giá chính sách là một giai đoạn 8 trong quy trình chính sách.
Bên cạnh đó, đánh giá chính sách trong nghiên cứu chính sách còn được hiểu là một phương pháp phân tích chương trình, chính sách, thông qua việc sử dụng các công cụ phân tích. Khái niệm tham nhũng - Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển đất nước, xã hội. Tham nhũng được thực hiện bởi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn mà đáng lý ra họ phải thực hiện hành vi đó vì lợi ích chung của cả xã hội thì lại bị lạm dụng vào mục đích trục lợi cho cá nhân.
Ở Việt Nam, khái niệm tham nhũng được quy định tại khoản 2, Điều 1 của Luật Phòng, chống tham nhũng của Nhà nước ta có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2006: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Khái niệm về chính sách phòng, chống tham nhũng Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu: Chính sách phòng, chống tham nhũng là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề về phòng, chống tham nhũng theo mục tiêu tổng thể đã xác định. Khái niệm thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng Thực hiện chính sách phòng chống tham nhũng là khâu hợp thành của chu trình chính sách phòng, chống tham nhũng, là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của Đảng, Nhà nước trong chính sách phòng, chống tham nhũng thành hiện thực đối với đối tượng cần phải phòng, chống tham nhũng nhằm đạt được mục tiêu phòng, chống tham nhũng đã định. Nó có ý nghĩa cơ bản sau đây: 9 Thứ nhất, thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng có vị trí quan trọng kết nối các khâu trong chu trình chính sách thành một hệ thống và là bước hiện thực hoá chính sách phòng, chống tham nhũng.
Thứ hai, qua kết quả thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng sẽ giúp ta biết được chính sách đó có đúng, phù hợp và đi vào thực tiễn hay không. Thứ ba, quá trình thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng với những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần vào việc điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn phòng, chống tham nhũng đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Nội dung thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng Việc thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng là vấn đề phức tạp, về cơ bản có những nội dung sau: 1. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục và tổ chức việc thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về phòng chống tham nhũng nói riêng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.
Việc thực thi và chấp hành pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có yếu tố ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân. Đặc trưng rõ nét của ý thức pháp luật - thể hiện thái độ của các thành viên trong xã hội đối với kỷ cương, pháp luật là sự đánh giá và ghi nhận tính công bằng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Pháp luật chỉ có thể trở thành công cụ có tác dụng điều chỉnh những hành vi đúng đắn khi sự cần thiết của nó đối với xã hội được ghi nhận, chấp nhận, khi mà nghĩa vụ chấp hành các quy định của pháp luật thực sự trở thành nhu cầu chấp hành một cách tự nguyện và có ý thức của bản thân mỗi người. Bởi thế có thể coi ý thức pháp luật như là tiền đề tư tưởng cho sự củng cố và phát triển nền pháp chế.
Trong thực tế, không phải lúc nào việc chấp hành pháp luật cũng trở thành ý thức tự nguyện. Bởi vậy trong điều kiện hiện nay, vai trò của giáo dục pháp 10 luật là hình thành ý thức pháp luật, góp phần giúp mỗi người nhận ra tính công bằng của pháp luật, chấp hành pháp luật trên cơ sở tự nguyện, xuất phát từ nhu cầu của bản thân, mà không phải do sự sợ hãi trước sự trừng phạt. Tuân thủ pháp chế XHCN còn phụ thuộc không nhỏ vào trình độ văn hoá pháp lý của nhân dân. Trình độ văn hóa pháp lý không chỉ phản ánh sự hiểu biết các quy định của pháp luật một cách tổng thể, cần thiết cho mỗi con người, gắn liền với các nghĩa vụ của họ mà còn là sự hiểu biết một cách sâu sắc ý nghĩa của pháp luật trong cuộc sống xã hội, sự tôn trọng pháp luật và biết vận dụng pháp luật một cách đúng đắn.
Tóm lại, giáo dục pháp luật với những phương thức khác nhau, trong đó có phổ biến, tuyên truyền pháp luật, tạo điều kiện cho việc nâng cao trình độ văn hoá pháp lý của người dân. Đồng thời, sự phát triển của văn hóa pháp lý cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước. Hiệu quả tác động này lại phụ thuộc vào trình độ văn hoá pháp lý của đội ngũ cán bộ, công chức; phụ thuộc vào việc họ thực thi đúng pháp luật, có thái độ tôn trọng pháp luật. Bởi vậy, thực hiện nhiệm vụ nâng cao văn hoá pháp lý đòi hỏi không chỉ nâng cao trình độ văn hoá chung của nhân dân mà còn phải tăng cường năng lực thực thi pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan Nhà nước.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật là do trình độ văn hoá pháp lý của một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, công chức còn thấp. Rõ ràng, việc nâng cao văn hoá pháp lý có quan hệ gắn bó mật thiết với việc tiếp tục tăng cường pháp chế.