Tổng quan nghiên cứu

Thông tin khoa học và công nghệ giữ vai trò cốt lõi trong việc kiến tạo nền tảng tri thức, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và phục vụ hoạch định chính sách quốc gia. Bước sang giai đoạn chuyển đổi số toàn diện, hệ sinh thái học thuật Việt Nam đứng trước yêu cầu tái cơ cấu mạnh mẽ dưới tác động của các khuôn khổ pháp lý mới, tiêu biểu như Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 (Luật số 93/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/10/2025) và Nghị định số 262/2025/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật về quản trị dữ liệu số. Trong mạng lưới cơ quan truyền thông học thuật, tạp chí khoa học vừa là nơi thẩm định, công bố kết quả nghiên cứu, vừa là thiết chế bảo đảm tính toàn vẹn và lan tỏa tri thức đến cộng đồng.

Tuy nhiên, hệ thống tạp chí khoa học trong nước đang đối mặt với nhiều rào cản lớn về nguồn nhân lực chuyên trách, hạ tầng công nghệ và năng lực đáp ứng chuẩn mực quốc tế. Đề án thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số 8340412) với đề tài "Chính sách phát triển thông tin khoa học và công nghệ trong các tạp chí khoa học tại Việt Nam" giải quyết trực diện bài toán này thông qua nghiên cứu trường hợp điển hình: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Được thành lập từ năm 1959 với tiền thân là tờ Tin tức Hoạt động Khoa học theo Giấy phép số 30/GP, tạp chí hiện vận hành 5 ấn phẩm gồm Bản A, Bản B, Bản C, Bản D và Bản điện tử. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là đánh giá thực trạng nguồn lực, chính sách và quy trình vận hành giai đoạn 2021-2025, từ đó đề xuất khung chính sách đồng bộ nhằm chuẩn hóa tạp chí theo chuẩn mực quốc tế. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực khi tỷ lệ biên chế hiện tại mới đạt 56% (14/25 chỉ tiêu), đồng thời thiết lập giải pháp nâng cao chỉ số ảnh hưởng và năng lực hội nhập quốc tế cho hệ thống xuất bản khoa học Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Đề án xây dựng nền tảng phân tích dựa trên sự tích hợp của 4 hệ lý thuyết học thuật hiện đại. Thứ nhất, lý thuyết Khoa học mở (Open Science) theo khung khuyến nghị của UNESCO năm 2021 và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tiếp cận tri thức khoa học dưới góc độ tài sản công cộng cần được chia sẻ minh bạch, bình đẳng thông qua mô hình Truy cập mở (Open Access). Thứ hai, lý thuyết Quản trị tri thức và dữ liệu khoa học gắn với bộ nguyên tắc FAIR (Findable, Accessible, Interoperable, Reusable), yêu cầu dữ liệu bài báo phải định danh số, dễ tìm kiếm, liên thông và tái sử dụng. Thứ ba, lý thuyết Truyền thông học thuật của Tenopir và King, định vị tạp chí là trung tâm kiểm chứng độc lập thông qua bình duyệt chuyên gia. Thứ tư, hệ lý thuyết Trắc lượng khoa học (Scientometrics) và Khoa học về khoa học (Metascience), cung cấp công cụ đo lường chất lượng qua trích dẫn, chỉ số tác động và thang đánh giá 100 điểm theo Nghị định số 262/2025/NĐ-CP.

Bên cạnh các lý thuyết nền tảng, nghiên cứu thao tác hóa 5 khái niệm công cụ: chính sách công theo tiếp cận thể chế của Vũ Cao Đàm; thông tin khoa học và công nghệ theo Nghị định số 11/2014/NĐ-CP; tạp chí khoa học theo tiêu chuẩn Ủy ban Đạo đức Xuất bản (COPE); chính sách thông tin; và chính sách phát triển thông tin theo cả chiều rộng (quy mô phát hành, mức độ tiếp cận) lẫn chiều sâu (chất lượng học thuật, độ minh bạch quy trình).

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và chiều sâu khoa học, đề án kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp nghiên cứu tài liệu, điều tra xã hội học bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu chuyên gia. Cỡ mẫu khảo sát bằng bảng hỏi bao gồm 2 nhóm chủ thể: 29 cán bộ quản lý, biên tập viên công tác tại Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam và 40 độc giả có trình độ từ đại học trở lên đã từng công bố công trình nghiên cứu trên tạp chí. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích nhằm thu thập dữ liệu xác thực từ những người trực tiếp vận hành quy trình xuất bản và các nhà khoa học am hiểu sâu sắc về chất lượng chuyên môn của tạp chí.

Bảng hỏi được thiết kế chuẩn hóa theo thang đo Likert 5 mức độ (từ mức 1: Rất thấp/Hoàn toàn không đồng ý đến mức 5: Rất cao/Hoàn toàn đồng ý). Dữ liệu thu thập được xử lý bằng kỹ thuật thống kê mô tả nhằm tính toán tần suất, tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình đại diện cho từng biến số. Đối với phương pháp định tính, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 10 chuyên gia, bao gồm 1 cán bộ lãnh đạo tạp chí và 9 nhà khoa học có học vị từ Tiến sĩ trở lên đang là phản biện và cộng tác viên uy tín. Lý do lựa chọn kết hợp hai phương pháp này là nhằm đối chiếu chéo giữa số liệu định lượng về mức độ đáp ứng hạ tầng, quy trình biên tập với các phân tích chuyên sâu về rào cản thể chế, từ đó cung cấp căn cứ vững chắc cho việc kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu trong mốc thời gian thực hiện đề án từ năm 2021 đến năm 2025.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích định lượng từ 29 phiếu khảo sát nhân lực nội bộ và 40 phiếu khảo sát độc giả cho thấy 4 phát hiện mang tính then chốt về thực trạng phát triển thông tin tại Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam:

Thứ nhất, rào cản lớn về nguồn nhân lực chuyên môn cao. Tính đến cuối năm 2024, tạp chí chỉ có 14 viên chức hưởng lương ngân sách trên tổng số 25 chỉ tiêu được giao, đạt tỷ lệ 56%. Dù sau quá trình sáp nhập bộ máy tiếp nhận tổng cộng 36 nhân sự, số lượng biên tập viên sở hữu học vị sau đại học trực tiếp làm nội dung còn rất mỏng với chỉ 01 Tiến sĩ và 02 Thạc sĩ. Khảo sát chỉ ra 58,6% cán bộ đánh giá mức độ đáp ứng khối lượng công việc của nhân lực ở mức trung bình (mức 3), trong khi 65,5% đánh giá năng lực chuyên môn của đội ngũ biên tập viên chỉ dừng lại ở mức 2 và mức 3.

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật và công nghệ số chưa đồng bộ. Mặc dù tạp chí đã tích cực số hóa, triển khai định danh bài báo qua hệ thống DOI của Crossref và kiểm soát đạo văn bằng phần mềm iThenticate, có tới 65,5% nhân sự khảo sát đánh giá cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật chỉ ở mức trung bình (mức 3 chiếm 51,7%, mức 2 chiếm 13,8%). Việc ứng dụng hệ thống quản trị xuất bản mã nguồn mở OJS chưa được bao phủ đồng đều trên toàn bộ 5 ấn phẩm.

Thứ ba, sự thiếu hụt nguồn lực tài chính cho xuất bản chuẩn hóa. Có đến 68,9% ý kiến đánh giá kinh phí xuất bản chỉ ở mức thấp và trung bình (mức 2 chiếm 24,1%, mức 3 chiếm 44,8%), chỉ có 6,9% đánh giá ở mức rất cao (mức 5). Điều này hạn chế nghiêm trọng khả năng thu hút các bài báo quốc tế chất lượng và tổ chức phản biện độc lập có thù lao tương xứng.

Thứ tư, năng lực quản trị xuất bản có nhiều điểm sáng nhưng truyền thông lan tỏa còn yếu. Khảo sát năng lực điều hành cho thấy 51,7% đánh giá mức độ tuân thủ chuẩn mực quốc tế (COPE, DOI, OJS) ở mức cao (mức 4) và 51,7% đánh giá quy trình xuất bản minh bạch ở mức cao. Tuy nhiên, công tác truyền thông, phổ biến tri thức khoa học ra xã hội có 44,8% đánh giá ở mức trung bình và 44,8% ở mức cao, chưa có sự bứt phá mạnh mẽ sang mức rất cao.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả dữ liệu khảo sát qua biểu đồ phân phối tần suất và bảng đối chiếu tỷ lệ phần trăm, các chỉ số đánh giá tập trung dày đặc ở ngưỡng an toàn (mức 3, dao động từ 41,4% đến 58,6%). Hiện tượng phân bố dạng chuông lệch trái này phản ánh thực tế tạp chí đã vận hành ổn định các chức năng cơ bản nhưng thiếu động lực bức phá để đạt chuẩn mực khu vực và quốc tế.

So sánh với các nghiên cứu tiền nhiệm, kết quả này hoàn toàn tương đồng với nhận định của Lê Tùng Sơn năm 2021 về sự phân tán nguồn lực trong hệ thống thông tin khoa học tại Việt Nam, cũng như phát hiện của Narumol Ruenwai khi nghiên cứu hạ tầng thông tin khoa học tại Thái Lan. Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ cơ chế quản lý hành chính sự nghiệp công lập, khiến tạp chí gặp vướng mắc trong việc tự chủ tài chính và đãi ngộ nhân sự chất lượng cao. Bên cạnh đó, việc áp dụng mô hình truy cập mở kim cương (không thu phí bạn đọc lẫn tác giả) trong bối cảnh ngân sách cấp chỉ đủ chi trả lương cơ bản đã tạo gánh nặng lớn lên việc nâng cấp máy chủ, mua bản quyền phần mềm quản trị và chi trả thù lao phản biện kín quốc tế. Dữ liệu này chứng minh rằng nếu không có khung chính sách đặc thù, tạp chí rất khó vượt qua các rào cản kỹ thuật để gia nhập các cơ sở dữ liệu học thuật như Scopus, Web of Science hay Thư mục các tạp chí truy cập mở (DOAJ).

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các điểm nghẽn và đưa Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam tiệm cận các chuẩn mực xuất bản học thuật toàn cầu, đề án đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật và quy trình xuất bản số: Tạp chí cần nâng cấp toàn diện nền tảng xuất bản điện tử OJS lên phiên bản mới nhất, tích hợp hoàn toàn chuẩn định dạng siêu dữ liệu XML theo tiêu chuẩn JATS và đồng bộ hóa mã định danh tác giả ORCID. Ban Tạp chí điện tử chủ trì thực hiện giải pháp này với mục tiêu cụ thể là rút ngắn 30% thời gian xử lý bản thảo (từ trung bình 90 ngày xuống còn 60 ngày) và hoàn thành trước quý IV năm 2026.

  2. Tái cấu trúc bộ máy và phát triển nhân lực chuyên sâu: Ban Lãnh đạo tạp chí phối hợp cùng cơ quan chủ quản kiện toàn đội ngũ, tuyển dụng đủ 100% chỉ tiêu 25 biên chế được giao; ban hành quy chế khuyến khích nâng cao trình độ, đặt chỉ tiêu tối thiểu 70% biên tập viên đạt trình độ từ Thạc sĩ trở lên và sở hữu chứng chỉ biên tập học thuật quốc tế vào năm 2027.

  3. Hoàn thiện chính sách truy cập mở và quản trị bản quyền minh bạch: Hội đồng Biên tập cần rà soát, ban hành văn bản chính sách bản quyền phù hợp với Nghị định số 17/2023/NĐ-CP và hướng dẫn của COPE; chuyển đổi phương thức phát hành sang mô hình cấp phép Creative Commons (chuẩn CC BY 4.0), tích hợp chính sách chia sẻ dữ liệu nghiên cứu thô (Open Data). Mục tiêu đưa Bản C (Vietnam Journal of Science, Technology and Engineering) và Bản D (VMOST Journal of Social Sciences and Humanities) được ghi danh vào danh mục DOAJ trong giai đoạn 2026-2027.

  4. Đa dạng hóa nguồn lực tài chính và đẩy mạnh truyền thông học thuật: Ban Trị sự cần xây dựng đề án hợp tác công tư, khai thác dịch vụ truyền thông khoa học và thu hút tài trợ hợp pháp từ các quỹ phát triển khoa học công nghệ, tạo nguồn thu tái đầu tư đạt mức tăng trưởng kinh phí xuất bản 20% mỗi năm. Đồng thời, liên kết hệ thống chỉ dẫn trích dẫn quốc gia (VCI) và mạng lưới thư viện số nhằm tăng lượt tải và trích dẫn bài viết thêm 40% đến năm 2028.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của đề án mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

  • Ban Biên tập và cơ quan quản lý các tạp chí khoa học: Cung cấp bộ công cụ khung đánh giá thực trạng gồm 6 nhóm biến và lộ trình chuyển đổi số quy trình xuất bản, giúp các tòa soạn xây dựng chiến lược tiệm cận tiêu chuẩn gia nhập DOAJ, Scopus và Web of Science.
  • Cơ quan hoạch định chính sách khoa học và công nghệ: Đóng vai trò làm luận cứ thực tiễn sắc bén để Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các bộ ngành cụ thể hóa các điều khoản của Luật số 93/2025/QH15 và các tiêu chí xếp hạng tạp chí theo thang điểm 100 quy định tại Nghị định số 262/2025/NĐ-CP.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh: Đề án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng, quy trình thiết kế bảng hỏi Likert 5 mức độ và ứng dụng các lý thuyết quản trị tri thức, khoa học mở vào chuyên ngành Quản lý KH&CN.
  • Chuyên viên quản trị thông tin và thư viện số: Hỗ trợ nắm vững kỹ thuật chuẩn hóa siêu dữ liệu, quản trị định danh số DOI, bản quyền Creative Commons và cách thức thiết lập kho lưu trữ tài nguyên mở phục vụ cộng đồng học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách thông tin trong tạp chí khoa học bao gồm những thành tố cốt lõi nào? Chính sách này bao gồm tổng thể quy định về: quản trị quy trình bình duyệt kín độc lập, bảo đảm liêm chính học thuật và phòng chống đạo văn, quản lý dữ liệu nghiên cứu mở, phân định bản quyền tác giả theo luật sở hữu trí tuệ, cùng các chuẩn mực kỹ thuật định danh số như DOI và hệ thống siêu dữ liệu mở.

Vì sao tỷ lệ đáp ứng biên chế của Tạp chí KH&CN Việt Nam mới đạt 56%? Tạp chí chỉ có 14 viên chức hưởng lương ngân sách trên tổng số 25 chỉ tiêu biên chế được giao do quy trình tinh giản bộ máy và cơ chế tuyển dụng viên chức nhà nước đòi hỏi nhiều tiêu chuẩn khắt khe, trong khi nguồn lực tài chính công hạn chế khiến việc thu hút nhân sự trình độ cao gặp nhiều khó khăn.

Nghị định số 262/2025/NĐ-CP tác động như thế nào đến việc xếp loại tạp chí khoa học? Nghị định số 262/2025/NĐ-CP quy định chi tiết thang điểm 100 để đánh giá chất lượng tạp chí khoa học, bắt buộc thực hiện phản biện kín với tối thiểu hai chuyên gia độc lập, chuẩn hóa danh mục tài liệu tham khảo quốc tế và minh bạch toàn bộ quy trình biên tập, làm căn cứ xét duyệt tài trợ công.

Tạp chí khoa học tại Việt Nam gặp trở ngại gì lớn nhất khi chuyển sang mô hình truy cập mở? Rào cản lớn nhất nằm ở bài toán cân đối tài chính khi phần lớn tạp chí hoạt động theo mô hình truy cập mở kim cương không thu phí tác giả lẫn độc giả. Nguồn kinh phí hỗ trợ từ cơ quan chủ quản thường eo hẹp, không đủ bù đắp chi phí duy trì máy chủ OJS, nộp phí duy trì mã định danh DOI hàng năm và trả thù lao phản biện quốc tế.

Làm thế nào để các bài báo của tạp chí trong nước nâng cao chỉ số trích dẫn quốc tế? Tòa soạn cần chuẩn hóa cấu trúc bài báo với tóm tắt và từ khóa song ngữ Anh - Việt chất lượng cao, ban hành chính sách bắt buộc gán định danh DOI cho từng bài, tích hợp chuẩn trích dẫn APA/IEEE và chủ động liên kết dữ liệu với các hệ thống thư mục mở như DOAJ, Google Scholar và cơ sở dữ liệu quốc gia.

Kết luận

  • Đề án đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chính sách phát triển thông tin trong tạp chí khoa học thông qua sự kết hợp của 4 khung lý thuyết: Khoa học mở, Quản trị tri thức FAIR, Truyền thông học thuật và Đo lường khoa học.
  • Khảo sát thực chứng đã chỉ rõ những điểm nghẽn nội tại của Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nổi bật là tình trạng thiếu hụt nhân lực khi chỉ đạt 56% chỉ tiêu biên chế và 68,9% ý kiến đánh giá kinh phí xuất bản ở mức trung bình và thấp.
  • Đề án khẳng định tính cấp thiết của việc thể chế hóa các quy định mới theo Luật số 93/2025/QH15 và Nghị định số 262/2025/NĐ-CP vào quy trình xuất bản học thuật thực tiễn.
  • Khung giải pháp 4 trụ cột được đề xuất với lộ trình triển khai chi tiết từ năm 2025 đến năm 2030, tập trung vào chuẩn hóa OJS, tái cơ cấu nhân lực, thực thi bản quyền CC BY và nâng cao năng lực trích dẫn.
  • Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý giáo dục hãy đón đọc toàn văn đề án để cùng thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm và áp dụng các sáng kiến quản trị xuất bản vào việc nâng tầm tạp chí khoa học Việt Nam trên trường quốc tế.