Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Phân tích, đánh giá hoạt động phân phối các mặt hàng sữa N utiFood tại Công Ty TN HH TM&DV Tấn Thành. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động phân phối các mặt hàng sữa N utiFood tại Công Ty TN HH TM&DV Tấn Thành. CHƯƠN G 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN N GHN SVTH: Hồ Văn Tùng 8 Khóa Luận Tốt N ghiệp GVHD: Th. Võ Phan N hật Phương PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ VẤ ĐỀ GHIÊ CỨU 1.
Kênh phân phối 1. Khái niệm kênh phân phối Tùy theo mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau thì người ta có thể đưa ra một khái niệm khác nhau về “kênh phân phối”. Xét về tầm vĩ mô, kênh phân phối được xem là con đường vận động của hàng hóa và dịch vụ từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Dưới góc độ của người tiêu dùng: Kênh phân phối là một hình thức làm cho hàng hóa sẵn sàng ở những nơi mà người tiêu dùng mong muốn mua được sản phN m cới giá hợp lý.
Dưới góc độ của nhà sản xuất: Kênh phân phối là sự tổ chức các mối quan hệ bên ngoài nhằm thực hiện các công việc phân phối để đạt được mục tiêu phân phối các sản phN m của doanh nghiệp ra thị trường. Theo quan điểm của chức năng phân phối: Kênh phân phối là một hệ thống hậu cần (Logistics) nhằm chuyển một sản phN m, một dịch vụ hay một giải pháp đến tay người tiêu dùng ở một thời điểm và một địa điểm nhất định. Theo quan điểm của chức năng quản trị: Kênh phân phối là một tổ chức các quan hệ bên ngoài doanh nghiệp để quản lý các hoạt động phân phối, tiêu thu sản phN m nhằm đạt các mục tiêu của doanh nghiệp trên thị trường. Theo quan điểm Marketing: Kênh phân phối là tập hợp các doanh nghiệp và các cá nhân độc lập phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Theo Philip Kotler (Quản trị Marketing,2003) : Kênh phân phối là tập hợp các công ty hay cá nhân tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hóa cụ thể hay dịch vụ bên trong con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng SVTH: Hồ Văn Tùng 9 Khóa Luận Tốt N ghiệp GVHD: Th. Võ Phan N hật Phương Theo PGS. N guyễn Thị Minh Hòa (Bài giảng quản trị kênh phân phối, 2021): Kênh phân phối là một tổ chức hệ thống với các doanh nghiệp và các cá nhân bên ngoài để quản lý các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phN m nhằm thực hiện các mục tiêu trên thị trường của doanh nghiệp. Kênh phân phối là tập hợp các tổ chức có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tham gia vào quá trình làm cho sản phN m hay dịch vụ trở nên sẵn có để sử dụng và tiêu thụ N hư vậy có thể thấy rằng kênh phân phối là một tổ chức tồn tại bên ngoài cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, nó được quản lý dựa trên quan hệ đàm phán thương lượng hơn là sử dụng các quyết định nội bộ.
Để phát triển một hệ thống kênh phân phối, người sản xuất có thể sử dụng các kênh đã có và thiết lập các kênh mới nhưng bao giờ cũng dựa trên sự phân công công việc giữa các thành viên kênh. Các định nghĩa khác nhau chứng tỏ rằng không thể có một định nghĩa nào về hệ thống kênh phân phối mà nó có thể thỏa mãn tất cả các đối tượng. Do vậy, trước khi đưa ra một định nghĩa về kênh phân phối cần xác định rõ mục đích sử dụng. Vai trò của kênh phân phối Hệ thống kênh phân phối điều chỉnh số lượng và chủng loại hàng hóa được thực hiện ở mỗi cấp độ của kênh phân phối.
Hệ thống kênh phân phối làm phù hợp giữa sản xuất chuyên môn hóa theo khối lượng với nhu cầu tiêu dùng cụ thể rất đa dạng. Điều này giúp giải quyết sự không thống nhất về số lượng, chủng loại sản phN m trong suốt quá trình phân phối. Vai trò tích lũy của kênh phân phối: Tức là thu nhận sản phN m từ nhiều nhà sản xuất. Tích lũy đặc biệt quan trọng ở các nước kém phát triển và trong nhiều thị trường khác như nông sản – nơi có nhiều nhà cung cấp nhỏ.
Tích lũy cũng đóng vai trò quan trọng đối với dịch vụ chuyên nghiệp do chúng liên quan đến sự kết hợp công việc của nhiều cá nhân, mỗi cá nhân là một nhà sản xuất chuyên môn hóa. Vai trò chia nhỏ: Tức là phân chia số lượng hàng hóa lớn thành số lượng nhỏ hơn, do vậy sản phN m gần thị trường hơn. Trong nhiều trường hợp điều này xảy ra ngay ở nhà sản xuất. N gười bán buôn có thể bán khối lượng nhỏ hơn đến các nhà bán buôn SVTH: Hồ Văn Tùng 10 Khóa Luận Tốt N ghiệp GVHD: Th.
Võ Phan N hật Phương khác hoặc trực tiếp đến người bán lẻ. N gười bán lẻ tiếp tục chia nhỏ khi họ bán cho người tiêu dùng. Chức năng của kênh phân phối Chức năng cơ bản của tất cả các kênh phân phối là giúp đưa sản phN m đến người tiêu dùng cuối cùng với mức giá mà họ có thể chi trả, đúng chủng loại, thời gian và địa điểm theo nhu cầu của họ. Chức năng trao đổi, mua bán: Trao đổi, mua bán là chức năng phổ biến nhất của kênh phân phối.
Về bản chất, chức năng này là việc tiến hành các hoạt động mua bán, bao gồm việc tìm kiếm, đánh giá giá trị của sản phN m hàng hóa / dịch vụ và tiêu thụ sản phN m (bao gồm việc sử dụng bán hàng cá nhân, quảng cáo và phương pháp Marketing khác). Chức năng phân loại, sắp xếp hàng hóa: Các kênh phân phối có thể phân loại các sản phN m lớn không đồng nhất do doanh nghiệp sản xuất thành các đơn vị đồng nhất nhỏ hơn và có thể quản lý được (về chất lượng, quy mô và giá cả). Kênh phân phối hướng tới việc đảm bảo các loại sản phN m được sản xuất với số lượng lớn cuối cùng được phân bổ thành các gói nhỏ hơn và phân phối cho khách hàng trên các khu vực khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu về các loại sản phN m. Chức năng lưu kho và dự trữ hàng hóa: Là chức năng tích lũy của kênh phân phối liên quan đến việc nhận biết những thay đổi về nhu cầu đối với sản phN m / dịch vụ trên một số thị trường.
Theo đó, các kênh này tích lũy hàng tồn kho để duy trì chất lượng và giá cả ổn định trên thị trường. Chức năng tiếp thị: Kênh phân phối còn được gọi là kênh tiếp thị vì chúng là một trong những điểm tiếp xúc cốt lõi nơi nhiều chiến lược tiếp thị được thực hiện. Họ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng cuối cùng và giúp đỡ nhà sản xuất trong việc tuyên truyền thông điệp thương hiệu, lợi ích của sản phN m và các lợi ích khác đến khách hàng. Chức năng chia sẻ rủi ro: Các kênh phân phối chịu rủi ro bằng cách trả trước cho người sản xuất những sản phN m chưa được bán cho khách hàng.
Họ cam kết các rủi ro SVTH: Hồ Văn Tùng 11 Khóa Luận Tốt N ghiệp GVHD: Th. Võ Phan N hật Phương liên quan đến hư hỏng có thể xảy ra trong quá trình vận chuyển, phân loại, đóng gói, khả năng nhu cầu thấp, thiếu hụt nguồn cung, v. đối với sản phN m. Chức năng thông tin: Một trong những chức năng quan trọng khác của kênh phân phối là nó mang và chuyển thông tin về công ty, nhãn hiệu, tính năng của sản phN m và những thông tin quan trọng khác đến với khách hàng cuối cùng.
Cấu trúc kênh phân phối Kênh phân phối là tập hợp các doanh nghiệp, cá nhân độc lập phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh nghiệp thực hiện việc bán sản phN m cho người tiêu dùng cuối cùng. N ói cách khác kênh phân phối là hệ thống quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình đưa hàng hóa từ doanh nghiệp đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy kênh phân phối không phải là một phần cấu trúc tổ chức nội bộ của doanh nghiệp nên quản trị kênh phân phối liên quan đến việc sử dụng khả năng quản lý giữa cá tổ chức hơn là quản lý trong nội bộ tổ chức (Trương Đình Chiến, 2008) Cấu trúc kênh phân phối thể hiện ở 3 góc độ: chiều dài của kênh, chiều rộng của kênh và các loại trung gian trong kênh phân phối. Chiều dài của kênh.
Được xác định bởi số cấp độ trung gian có mặt trong kênh. Khi số cấp độ trung gian tăng lên có nghĩa là kênh phát triển về chiều dài. Sơ đồ cấu trúc kênh theo chiều dài hàng hóa bao gồm: Kênh phân phối trực tiếp (kênh phân phối cấp 0) Pgười sản xuất Lực lượng bán hàng của doanh nghiệp Pgười tiêu dùng Đây là hình thức phân phối mà nhà sản xuất sẽ bán sản phN m cho người tiêu dùng cuối cùng mà không qua bất kì trung gian nào. Hàng hóa chỉ thay đổi quyền sở hữu duy nhất.
Kênh này thường áp dụng cho các sản phN m tươi sống trong phạm vi hẹp. Ưu điểm của mạng lưới này là đN y nhanh tốc độ lưu thông sản phN m, nâng cao được sự chủ động của doanh nghiệp trong các quyết định phân phối và thu được lợi nhuận cao. N hưng nó bị hạn chế vì quy trình quản lý khá phức tạp, nguồn vốn và SVTH: Hồ Văn Tùng 12 Khóa Luận Tốt N ghiệp GVHD: Th. Võ Phan N hật Phương nguồn nhân lực của Công ty bị phân tán.
Khả năng sản phN m có thể tiếp cận được khách hàng kém hơn các kênh phân phối có sử dụng trung gian. Kênh phân phối gián tiếp Kênh phân phối gián tiếp được chia thành: Kênh cấp 1: Phà sản xuất nhà bán lẻ người tiêu dùng Kênh phân phối cấp 1 sử dụng nhà bán lẻ làm trung gian phân phối. Doanh nghiệp sau khi sản xuất hàng hoá sẽ phân phối đến các nhà bán lẻ, các nhà bán lẻ sẽ bán lại cho những người tiêu dùng. Kênh này phù hợp với doanh nghiệp bán lẻ lớn như các siêu thị, trung tâm thương mại.nơi có quan hệ trực tiếp với người sản xuất Ưu điểm là ít tốn chi phí hơn so với kênh phân phối trực tiếp, sản phN m có thể tiếp cận được người tiêu dùng ở khoảng cách rộng hơn so với kênh phân phối trực tiếp.