Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cạnh tranh lành mạnh là động lực thúc đẩy các chủ thể kinh doanh không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm và tối ưu hóa chi phí để chiếm lĩnh thị trường. Tuy nhiên, nhằm triệt tiêu sức ép cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận, nhiều doanh nghiệp đã câu kết với các đối thủ để hình thành các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (TTHCCT / cartel). Các thỏa thuận này thường thỏa thuận ấn định giá, phân chia thị trường tiêu thụ hoặc kiểm soát sản lượng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế và quyền lợi của người tiêu dùng.

Thực tiễn thực thi pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam cho thấy việc phát hiện và xử lý TTHCCT gặp phải hai rào cản lớn:

  • Tính chất "ngầm hóa" và tinh vi: Các bên tham gia TTHCCT luôn nhận thức rõ tính phi pháp nên chủ động che giấu hành vi qua các biện pháp bảo mật, tiêu hủy tài liệu hoặc sử dụng các ứng dụng liên lạc mã hóa (như WhatsApp, Signal, Telegram, iMessage, Pryvate, Ceerus). Các cuộc gặp gỡ thường diễn ra ngẫu nhiên tại khách sạn, triển lãm hoặc trao đổi qua điện thoại mà không lập văn bản chính thức.
  • Sự đa dạng và biến đổi của hình thức thỏa thuận: TTHCCT không chỉ thể hiện dưới dạng hợp đồng hay biên bản rõ ràng mà có thể biến tướng thành các hành vi phối hợp ngầm trên thị trường hoặc mở rộng phạm vi xuyên biên giới.

Hậu quả là số lượng vụ việc TTHCCT được phát hiện và xử lý tại Việt Nam trước năm 2018 rất hạn chế. Theo thống kê của Cục Quản lý cạnh tranh, tính đến hết năm 2017, cơ quan này mới chỉ điều tra chính thức và xử lý được 02 vụ việc:

  1. Vụ việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm xe cơ giới tại Phan Thiết (ký kết ngày 15/09/2008).
  2. Vụ việc thỏa thuận phân chia thị trường và ấn định giá của 12 doanh nghiệp bảo hiểm học sinh tại Khánh Hòa (ký kết ngày 25/05/2011).

Quy định về tình tiết giảm nhẹ tại Luật Cạnh tranh năm 2004 (với mức giảm tối đa 15% tiền phạt theo Nghị định 71/2014/NĐ-CP) không tạo đủ động lực kinh tế để doanh nghiệp "xé rào" tố giác hành vi vi phạm. Trước bối cảnh đó, Luật Cạnh tranh năm 2018 (Luật số 23/2018/QH14) đã chính thức bổ sung chế định Chính sách khoan hồng (CSKH) tại Điều 112.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng quy định pháp luật về CSKH trong Luật Cạnh tranh năm 2018 và dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành.
  2. Nghiên cứu, phân tích các quy định nổi bật và thực tiễn thi hành CSKH của một số quốc gia tiêu biểu trong khu vực châu Á, cụ thể là Nhật Bản và Hàn Quốc.
  3. Tổng hợp, so sánh và đánh giá kinh nghiệm quốc tế để đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện quy định về CSKH trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hành lang pháp lý về CSKH trong pháp luật cạnh tranh Việt Nam và kinh nghiệm lập pháp quốc tế.
  • Phạm vi không gian: Pháp luật Việt Nam và hai quốc gia châu Á có kinh nghiệm thực thi là Nhật Bản và Hàn Quốc.
  • Phạm vi thời gian: Các quy định pháp luật cạnh tranh hiện hành và văn bản hướng dẫn tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung pháp lý

Khóa luận xây dựng lập luận dựa trên các nền tảng kinh tế - pháp lý và quy định chuyên ngành:

  • Lý thuyết trò chơi và Nghịch lý tù nhân (Prisoner's Dilemma): Giải thích động cơ phản bội của các thành viên trong liên minh ngầm khi cơ quan quản lý tạo ra cơ chế thưởng - phạt bất cân xứng giữa bên chủ động đầu thú và bên giữ im lặng.
  • Cơ chế "Cây gậy và Củ cà rốt" (Carrot and Stick): Khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), kết hợp giữa chế tài xử phạt nghiêm khắc (cây gậy) và chính sách miễn, giảm mức xử phạt tài chính (củ cà rốt) để thu hút người trong cuộc khai báo.
  • Khái niệm TTHCCT: Căn cứ Khoản 4 Điều 3 và 11 nhóm hành vi quy định tại Điều 11 Luật Cạnh tranh năm 2018; phân loại theo thỏa thuận ngang (cartel) và thỏa thuận dọc.
  • Hệ thống văn bản pháp lý tham chiếu:
    • Việt Nam: Luật Cạnh tranh năm 2018 (Điều 3, 11, 12, 112); Luật Cạnh tranh năm 2004; Nghị định số 71/2014/NĐ-CP; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với Điều 29, 51, 217 (Tội vi phạm quy định về cạnh tranh), Điều 222; Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh ngày 22/10/2018 (Điều 56).
    • Quốc tế: Báo cáo và tài liệu hướng dẫn của Mạng lưới Cạnh tranh Quốc tế (ICN), OECD; Luật Chống độc quyền Nhật Bản; Luật Điều chỉnh độc quyền và Thương mại công bằng Hàn Quốc (MRFTA); các báo cáo thường niên của Ủy ban Thương mại Công bằng Hàn Quốc (KFTC) và Nhật Bản (JFTC).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp, thống kê, hệ thống hóa và luận giải: Dùng để làm rõ các khái niệm lý luận, cấu thành điều kiện hưởng khoan hồng và đánh giá thực trạng quy định trong nước.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các khía cạnh pháp lý (đối tượng, mức độ miễn giảm, điều kiện chứng cứ, thủ tục đánh dấu vị trí) giữa pháp luật Việt Nam với Nhật Bản và Hàn Quốc, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về chính sách khoan hồng theo pháp luật cạnh tranh

Chương 1 tập trung giải quyết nền tảng lý luận về việc kiểm soát TTHCCT và bản chất của CSKH:

  • Phân tích khó khăn và tiền đề hình thành: Khối liên minh TTHCCT duy trì được là nhờ "lòng tin" mong manh giữa các bên về mặt lợi ích. Việc phát hiện từ bên ngoài đòi hỏi chi phí lớn và hiệu quả thấp. Do đó, CSKH được thiết kế để đánh trúng điểm yếu nội tại này, thúc đẩy các bên tự phá vỡ thỏa thuận từ bên trong.
  • Khái niệm và lịch sử phát triển: CSKH xuất phát điểm từ Hoa Kỳ (năm 1978, cải cách năm 1993), được Ủy ban châu Âu tiếp nhận năm 1996 và hiện có hơn 50 quốc gia áp dụng. Bản chất CSKH là sự trao đổi giữa cơ quan quản lý và đối tượng vi phạm: miễn hoặc giảm chế tài xử phạt để đổi lấy chứng cứ và sự hợp tác điều tra.
  • Đặc điểm cơ bản của CSKH:
    1. Phạm vi áp dụng: Giới hạn trong các hành vi TTHCCT bị cấm, không áp dụng tràn lan cho hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độc quyền hay tập trung kinh tế.
    2. Mục đích: Phá vỡ quy tắc im lặng của cartel và ngăn ngừa nguy cơ hình thành thỏa thuận mới.
    3. Đối tượng: Chủ yếu là pháp nhân doanh nghiệp; một số quốc gia mở rộng cho cả cá nhân lãnh đạo/người lao động.
    4. Mức độ áp dụng: Bao gồm miễn 100% hình phạt hoặc giảm theo tỷ lệ phân hóa.
    5. Điều kiện tiếp nhận: Phải chấm dứt vi phạm, nộp đơn sớm, trung thực và không phải đối tượng cầm đầu, cưỡng ép.
  • Đánh giá hai mặt của CSKH:
    • Tác động tích cực: Hỗ trợ thu thập chứng cứ nội bộ có độ chính xác cao; ngăn chặn hình thành cartel mới do tâm lý ngờ vực lẫn nhau; tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng thông qua cơ chế tương tự "thỏa thuận nhận tội"; hỗ trợ bảo vệ quyền lợi nạn nhân.
    • Mối lo ngại tiêu cực: Bị chỉ trích làm giảm tính răn đe khi kẻ vi phạm được miễn phạt; nguy cơ bị doanh nghiệp lợi dụng để triệt hạ đối thủ hoặc cố tình trục lợi từ thỏa thuận rồi xin khoan hồng để hợp thức hóa thị phần mới.

Chương 2: Chính sách khoan hồng theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 và kiến nghị hoàn thiện

Chương 2 phân tích trực tiếp thực trạng pháp lý Việt Nam, so sánh với Nhật Bản, Hàn Quốc và đề xuất giải pháp:

1. Thực trạng quy định về CSKH theo Luật Cạnh tranh năm 2018

  • Đối tượng áp dụng: Khoản 1 Điều 112 quy định chỉ áp dụng cho doanh nghiệp (bao gồm cả hợp tác xã, hộ kinh doanh). Khoản 4 Điều 112 loại trừ đối với doanh nghiệp có vai trò ép buộc hoặc tổ chức cho các doanh nghiệp khác tham gia thỏa thuận. Luật không áp dụng CSKH cho cá nhân.
  • Phạm vi và mức độ miễn giảm: Áp dụng cho tối đa không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (UBCTQG). Mức độ miễn giảm được định khung cố định:
    • Doanh nghiệp thứ nhất: Miễn 100% mức phạt tiền.
    • Doanh nghiệp thứ hai: Giảm 60% mức phạt tiền.
    • Doanh nghiệp thứ ba: Giảm 40% mức phạt tiền.
  • Điều kiện hưởng khoan hồng:
    • Doanh nghiệp phải tự nguyện khai báo trước khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định điều tra.
    • Khai báo trung thực, cung cấp toàn bộ thông tin, chứng cứ "có giá trị đáng kể".
    • Hợp tác đầy đủ trong suốt quá trình điều tra và chấm dứt hành vi vi phạm.
    • Theo Điều 56 Dự thảo Nghị định hướng dẫn, UBCTQG ghi nhận thời điểm khai báo sau khi doanh nghiệp cung cấp 03 thông tin sơ bộ (ngành lĩnh vực, tính chất mục tiêu thỏa thuận, thời điểm diễn ra thỏa thuận).

2. Kinh nghiệm thực thi tại Nhật Bản và Hàn Quốc

Tiêu chí so sánh Luật Cạnh tranh Việt Nam (2018) Pháp luật Nhật Bản (JFTC) Pháp luật Hàn Quốc (KFTC / MRFTA)
Số lượng đối tượng tiếp nhận Tối đa 03 doanh nghiệp Tối đa 05 doanh nghiệp Doanh nghiệp thứ 1 và thứ 2 (cùng các đối tượng tiếp theo theo điều kiện)
Mức độ miễn giảm tiền phạt DN 1: 100%
DN 2: 60%
DN 3: 40%
Phân hóa theo thứ tự nộp đơn (DN 1: 100%, các DN sau giảm theo tỷ lệ) DN 1: 100% tiền phạt hành chính
DN 2: Giảm 50% (không áp dụng nếu cartel chỉ có 2 bên)
Thời điểm khai báo Bắt buộc trước khi có quyết định điều tra Chấp nhận cả trước và sau khi bắt đầu điều tra Chấp nhận cả trước và sau khi bắt đầu điều tra
Tiêu chí đánh giá chứng cứ Yêu cầu phải "có giá trị đáng kể" Cung cấp đầy đủ, trung thực toàn bộ tài liệu Cung cấp đầy đủ tài liệu, hợp tác toàn diện đến khi kết thúc điều tra
Quy định đối với tái phạm Chưa có quy định riêng Có quy định kiểm soát chặt chẽ Cấm hưởng CSKH trong 05 năm nếu tiếp tục tham gia cartel mới
Hệ thống đánh dấu (Marker) Ghi nhận thời điểm sơ bộ, chưa ấn định thời hạn nộp chứng cứ Áp dụng hệ thống đánh dấu chính thức Cho phép giữ chỗ từ 15 đến 60 ngày để hoàn tất chứng cứ
Hiệu quả thực tế ghi nhận Chưa có số liệu thực thi (đến 2019) Số lượng đơn nộp và xử lý gia tăng đều Phát hiện 260 vụ từ 1999-2016 (riêng 2005-2016 phanh phui 256 vụ cartel)

3. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

  • Nhóm giải pháp định hướng:
    • Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng (dẫn chứng khảo sát năm 2017 của CCCS - Singapore cho thấy chỉ 16% doanh nghiệp biết về CSKH).
    • Nâng cao năng lực chuyên môn và tính chủ động điều tra của UBCTQG để tạo uy tín thực thi.
    • Hoàn thiện cơ chế bảo mật tuyệt đối thông tin người nộp đơn và bảo vệ doanh nghiệp khai báo sau xử lý.
  • Nhóm giải pháp quy định cụ thể:
    • Tiêu chí loại trừ đối tượng: Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể căn cứ xác định doanh nghiệp có vai trò "ép buộc" hoặc "tổ chức" để tránh áp dụng tùy nghi.
    • Tiêu chuẩn giá trị chứng cứ: Thay thế thuật ngữ định tính "có giá trị đáng kể" bằng yêu cầu mang tính khách quan: "cung cấp đầy đủ, trung thực toàn bộ thông tin, tài liệu hiện có theo yêu cầu điều tra" tương tự mô hình Nhật Bản và Hàn Quốc.
    • Mở rộng thời điểm nộp đơn: Cho phép doanh nghiệp được hưởng khoan hồng ngay cả sau khi UBCTQG đã ra quyết định điều tra (nếu tại thời điểm đó cơ quan điều tra chưa thu thập đủ chứng cứ kết luận vi phạm).
    • Đa dạng hóa hình thức nộp đơn: Công nhận hình thức khai báo phi văn bản (qua điện thoại, làm việc trực tiếp, bảo mật danh tính bước đầu) để bảo đảm quyền ưu tiên thời gian cho bên tố giác.
    • Xây dựng Hệ thống đánh dấu (Marker System): Quy định thời hạn cụ thể (khoảng 30 ngày) để doanh nghiệp giữ vị trí đầu tiên hoàn thiện hồ sơ chứng cứ; chỉ cấp quyền giữ chỗ cho đối tượng nộp đơn đầu tiên nhằm tối ưu hóa áp lực chạy đua tố giác.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở pháp lý: Phân tích chi tiết quy định về CSKH tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018 và Điều 56 Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành, xác định rõ cấu trúc điều kiện, phạm vi và mức độ miễn giảm theo pháp luật Việt Nam.
  • Cung cấp dữ liệu so sánh lập pháp quốc tế: Khái quát thực tiễn áp dụng và hiệu quả thực thi CSKH của Nhật Bản và Hàn Quốc (với số liệu 260 vụ việc cartel được phát hiện tại Hàn Quốc giai đoạn 1999–2016), qua đó làm rõ khoảng cách giữa quy định trong nước và thông lệ quốc tế.
  • Chỉ ra các khoảng trống pháp lý của Luật Cạnh tranh năm 2018:
    • Khái niệm chứng cứ "có giá trị đáng kể" mang tính chủ quan, dễ dẫn đến rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp khai báo.
    • Việc giới hạn thời điểm khai báo trước khi có quyết định điều tra làm giảm cơ hội thu thập chứng cứ ở giai đoạn điều tra chính thức.
    • Thiếu vắng quy định về thời hạn bảo toàn vị trí trong hệ thống đánh dấu (marker system).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp sửa đổi có tính khả thi: Đưa ra 2 nhóm giải pháp định hướng và 5 đề xuất kỹ thuật lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung quy định về CSKH tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Đề tài được hoàn thành vào năm 2019, thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2018 mới được ban hành và Nghị định hướng dẫn vẫn ở dạng Dự thảo, do đó nghiên cứu chưa thể phân tích các số liệu xét xử và thực tiễn thực thi CSKH thực tế tại các cơ quan tài phán Việt Nam.
    • Phạm vi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế mới tập trung tại 02 quốc gia châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) mà chưa đi sâu vào toàn bộ hệ thống các nước áp dụng Thông luật (như Anh, Úc).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo sát và đánh giá hiệu quả áp dụng CSKH của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sau khi các nghị định hướng dẫn chính thức có hiệu lực thi hành trên thực tế.
    • Nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa thủ tục xử lý vi phạm hành chính của Luật Cạnh tranh với việc miễn/giảm trách nhiệm hình sự đối với Tội vi phạm quy định về cạnh tranh theo Điều 217 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo, nghiên cứu: Là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên ngành Luật Thương mại, Luật Kinh tế khi tiếp cận chế định mới về kiểm soát TTHCCT và chính sách khoan hồng trong Luật Cạnh tranh năm 2018.
  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Cung cấp cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn từ KFTC và JFTC, hỗ trợ cơ quan soạn thảo trong quá trình xây dựng văn bản hướng dẫn chi tiết về quy trình tiếp nhận đơn xin khoan hồng và thiết lập hệ thống đánh dấu vị trí.
  • Đối với cộng đồng doanh nghiệp và luật sư tư vấn: Giúp các luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý nắm vững điều kiện, khung mức giảm phạt và trình tự nộp đơn sơ bộ để hỗ trợ doanh nghiệp đưa ra chiến lược ứng phó phù hợp khi tham gia các thỏa thuận thương mại trên thị trường.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định mức độ miễn, giảm tiền phạt theo chính sách khoan hồng như thế nào?

Theo quy định tại Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, chính sách khoan hồng chỉ áp dụng cho tối đa không quá 03 doanh nghiệp đầu tiên nộp đơn xin hưởng khoan hồng đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Mức độ giảm trừ được quy định theo khung cố định:

  • Doanh nghiệp đầu tiên: Miễn 100% mức phạt tiền.
  • Doanh nghiệp thứ hai: Giảm 60% mức phạt tiền.
  • Doanh nghiệp thứ ba: Giảm 40% mức phạt tiền.

2. Những chủ thể nào không thuộc diện được hưởng chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh năm 2018?

Căn cứ Khoản 4 Điều 112 Luật Cạnh tranh năm 2018, chính sách khoan hồng không áp dụng đối với doanh nghiệp có vai trò ép buộc hoặc tổ chức cho các doanh nghiệp khác tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Ngoài ra, chính sách này không áp dụng đối với cá nhân là người quản lý hoặc người lao động của doanh nghiệp vi phạm.

3. Doanh nghiệp cần cung cấp những thông tin sơ bộ nào để được ghi nhận thời điểm khai báo theo Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh năm 2018?

Theo Khoản 2 Điều 56 Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh (ngày 22/10/2018), doanh nghiệp chỉ cần cung cấp 03 thông tin cơ bản để được ghi nhận thời điểm khai báo:

  1. Ngành, lĩnh vực liên quan đến hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp đã hoặc đang tham gia.
  2. Hành vi, tính chất và mục tiêu của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.
  3. Thời điểm và giai đoạn thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra.

4. Pháp luật Hàn Quốc quy định điều kiện đặc thù nào đối với doanh nghiệp tái phạm cartel và thủ tục đánh dấu vị trí?

Theo Luật MRFTA của Hàn Quốc:

  • Doanh nghiệp đã được miễn hoặc giảm phạt theo chương trình khoan hồng mà tiếp tục tham gia vào một cartel mới sẽ bị cấm hưởng chính sách khoan hồng trong thời hạn 05 năm kể từ lần miễn/giảm trước đó.
  • Trong hệ thống đánh dấu (marker system), sau khi khai báo thông tin sơ bộ, người nộp đơn được KFTC cho phép thời hạn 15 ngày (có thể gia hạn tối đa đến 60 ngày nếu có yếu tố quốc tế hoặc lý do chính đáng) để nộp đầy đủ chứng cứ.

5. Tác giả khóa luận kiến nghị sửa đổi tiêu chí "giá trị đáng kể" của chứng cứ như thế nào?

Tác giả đề xuất loại bỏ cụm từ mang tính định lượng chủ quan "có giá trị đáng kể" tại Luật Cạnh tranh năm 2018 và thay thế bằng tiêu chuẩn khách quan tương tự Nhật Bản và Hàn Quốc: Doanh nghiệp xin hưởng khoan hồng có nghĩa vụ hợp tác toàn diện, khai báo trung thực và cung cấp đầy đủ tất cả các thông tin, tài liệu mà mình sở hữu liên quan đến thỏa thuận theo yêu cầu của cơ quan quản lý cạnh tranh.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Út Lan đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý về chính sách khoan hồng theo Luật Cạnh tranh năm 2018. Thông qua việc nghiên cứu so sánh chuyên sâu với mô hình thực thi tại Nhật Bản và Hàn Quốc, công trình đã làm rõ những điểm tiến bộ cũng như các bất cập còn tồn tại trong quy định hiện hành về điều kiện chứng cứ, thời điểm khai báo và thủ tục đánh dấu vị trí. Các kiến nghị sửa đổi được đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào quá trình hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh nhằm xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch và lành mạnh tại Việt Nam.