CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THOẢ THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1. Khái quát về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng lao động 1. Khái niệm về hợp đồng lao động và thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng lao động 1.
Khái niệm về hợp đồng lao động Hợp đồng lao động có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Trước hết, nó là cơ sở để các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển chọn lao động phù hợp với yêu cầu của mình. Mặt khác, hợp đồng lao động là một trong những hình thức pháp lý chủ yếu nhất để công dân thực hiện quyền làm việc, tự do, tự nguyện lựa chọn việc làm cũng như nơi làm việc. Trên thế giới, hợp đồng lao động là một chế định truyền thống, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của luật lao động.
Hợp đồng lao động là một chương không thể thiếu của hầu hết các Bộ luật Lao động của các nước trên thế giới. Ở nước ta, ngay từ sắc lệnh số 29/SL, ngày 12-03-1947 và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã ghi nhận về hợp đồng lao động với tên gọi “khế ước làm công” hay “giao kèo” thuê mướn lao động. Sau này được sử dụng để tuyển dụng công nhân viên chức theo hình thức “phụ động” hay “tạm tuyển”. Tuy nhiên, sau đó, trong một thời gian dài, do hoàn cảnh đặc biệt của đất nước, chế định tuyển dụng vào biên chế Nhà nước theo nghị định 24/CP ngày 13- 03-1963 đã giữ vai trò chủ yếu trong việc hình thành quan hệ lao động trong các xí nghiệp, cơ quan Nhà nước.
Hợp đồng lao động vẫn còn tồn tại nhưng chỉ với ý nghĩa “phụ trợ” cho chế độ tuyển vào biên chế. Bắt đầu từ năm 1985, nhất là sau khi có Quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc mở rộng quyền tự chủ cho các đơn vị kinh tế cơ sở thuộc khu vực quốc doanh, chế độ hợp đồng lao động mới được thừa nhận và tồn tại như một hình thức tuyển dụng lao động chủ yếu trong cả nước (Trường ĐH Luật Hà Nội,Giáo trình luật lao động Việt Nam, NXB Công an Nhân dân 2008, tr. Kể từ khi có Pháp lệnh hợp đồng lao động, nhất là từ khi trở thành một chương trong 10 Bộ luật Lao động năm 1994, và Bộ luật Lao động năm 20121 thì hợp đồng lao động mới là hình thức tuyển dụng lao động phổ biến để hình thành nên quan hệ lao động trong các doanh nghiệp, đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế. Theo quy định tại Điều 15 BLLĐ 2012, Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Để thiết lập quan hệ lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động, phải có một hình thức nào đó để làm phát sinh mối quan hệ giữa hai bên chủ thể của quan hệ lao động, hình thức đó chính là hợp đồng lao động. Thực chất của hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa hai bên, một bên là người lao động đi tìm việc làm, còn bên kia là người sử dụng lao động cần thuê mướn người làm công. Từ khái niệm về hợp đồng lao động, có thể rút ra những đặc trưng sau của hợp đồng lao động (Trường ĐH Luật Hà Nội,Giáo trình luật lao động Việt Nam, NXB Công an Nhân dân 2008, tr.124-145): - Đối tượng của hợp đồng lao động là việc làm; - Hợp đồng lao động được xác lập một cách bình đẳng, song phương, quan hệ hợp đồng được tạo ra bởi chính hành vi của các bên. Các bên vừa phải độc lập với nhau trong quá trình giao kết vừa phải căn cứ vào điều kiện, khả năng đáp ứng yêu cầu hay đòi hỏi những quyền lợi cho mình, mặt khác pháp luật cũng can thiệp để việc giao kết hợp đồng đảm bảo cho các bên những quyền lợi căn bản nhất mà không cần có sự nhượng bộ của bên kia; - Hành vi giao kết hợp đồng là điều kiện rằng buộc các chủ thể và vì vậy sự giao kết hợp đồng bao giờ cũng có tính đích danh.
Điều này làm cho người lao động trở thành người lệ thuộc vào người sử dụng lao động và những trái vụ được tạo ra chỉ thuộc về người lao động tham gia vào hợp đồng mà không phải là người khác, ngay cả khi người đó có khả năng cao hơn trong hoạt động nghề nghiệp, và do đó, người lao động không thể chuyển giao quyền và nghĩa vụ của họ trong quan hệ lao 1 Các vấn đề pháp lý liên quan đến Hợp đồng lao động được quy định tại Chương III Bộ luật Lao động 2012 11 động cho những người thừa kế, còn những người thừa kế cũng không phải thực thi những trái vụ mà người lao động có nghĩa vụ đảm trách khi còn sống; - Hợp đồng lao động phải được thực hiện liên tục trong một khoảng thời gian nhất định hay trong một thời gian vô hạn định, trừ những trường hợp tạm ngưng theo quy định của pháp luật. Có nghĩa là công việc phải được thi hành tuần tự theo thời gian xác định mà người lao động không có quyền lựa chọn hay làm việc theo ý của mình. Khái niệm về thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng lao động Cạnh tranh là một khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội hiện nay. Do vậy, cũng không quá khó để hiểu rằng sẽ có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này.
Theo Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) là “một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đối về phía mình” (Nguyễn Thị Vân Anh 2012, tr. Hay Từ điển tiếng Việt định nghĩa rằng “cạnh tranh” là “cố gắng giành phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau” (Hà Thị Thanh Bình, Phạm Trí Hùng 2012, tr. Xét ở góc độ kinh tế, cạnh tranh là một quy luật cơ bản của cơ chế thị trường, đồng thời còn là thuộc tính mang tính tất yếu của kinh tế thị trường. Nó tồn tại ở mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với mọi chủ thể kinh tế đang hoạt động trên thị trường.
Cũng chính vì thế mà ngay trong phương diện này, thuật ngữ “cạnh tranh” cũng được hiểu ở nhiều góc độ, tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học. Chẳng hạn, theo Từ điển kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992, “cạnh tranh” được hiểu là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” hay từ điển tiếng Việt Bách khoa tri thức phổ thông cho rằng cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân,. nhằm giành lấy các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. 12 Trong khoa học pháp lý, các nhà nghiên cứu cũng gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng khái niệm chung cho hiện tượng cạnh tranh.
Điều này được thể hiện ở việc rất ít các quốc gia trên thế giới đưa ra định nghĩa cố định cho thuật ngữ cạnh tranh. Có thể tìm thấy một số nước đã giải thích khái niệm này như Điều 3 Luật Cạnh tranh Thổ Nhĩ Kỳ quy định: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa, dịch vụ để quyết định các vấn đề kinh tế một cách độc lập (Nguyễn Thị Vân Anh 2012, tr. Tương tự như hệ thống pháp luật của đa số các quốc gia, pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện hành cũng không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào cho thuật ngữ “cạnh tranh”. Tại Điều 3 Luật Cạnh tranh Việt Nam 2004 có quy định hành vi hạn chế cạnh tranh là gì, theo đó, những hành vi này là “hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế”.
Như vậy, có thể thấy rằng chủ thể của cạnh tranh và hạn chế cạnh tranh là những chủ thể kinh tế độc lập, có cùng lĩnh vực hoạt động và cùng đối tượng hướng đến, với mục đích là giành lấy phần thắng về mình trong một môi trường cụ thể. Vấn đề đặt ra là trong quan hệ lao động, NSDLĐ và NLĐ không phải là chủ thể của hiện tượng cạnh tranh. Bởi với tư cách là một chủ thể có vị thế lệ thuộc vào NSDLĐ, NLĐ phải chịu sự kiểm tra, giám sát, quản lý, điều hành của NSDLĐ, họ không hướng đến cùng một đối tượng, cũng như không có mục đích giành lấy ưu thế cao hơn so với bên còn lại trên thị trường. Vậy tại sao trong quan hệ đó lại tồn tại một thỏa thuận với tên gọi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh? Và thỏa thuận này là gì? Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (non – competition clause/convenant not to compete) lần đầu tiên được nhắc đến trong một học thuyết về hạn chế thương mại (the restraint of trade doctrine) của hệ thống thông luật liên quan đến hiệu lực của những thỏa thuận trong hợp đồng nhằm hạn chế quyền tự do thương mại của một bên ký kết.
Học thuyết cho rằng khi các bên tiến hành ký kết điều khoản này có nghĩa là một bên đã đồng ý bị hạn chế việc thực hiện một số quyền liên quan đến 13 quyền tự do thương mại của mình. Cũng theo đó, điều khoản này có hiệu lực thi hành khi nó được thiết lập trên nguyên tắc phù hợp với chính sách công, lợi ích công cộng và đảm bảo tính hợp lý trong ký kết và thực hiện (Nguyễn Lộc Phúc 2016, tr.