Chương 1. Cơ sở lý luận của chính sách hợp tác với nước ngoài về đào tạo SĐH trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Kinh nghiệm các nước và chính sách nước ta trong đào tạo SĐH Chương 3. Hoàn thiện chính sách HTQT về đào tạo SĐH của nước ta 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH HỢP TÁC VỚI NƢỚC NGOÀI VỀ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1.
Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách HTQT về giáo dục đại học nói chung và đào tạo nhân lực SĐH nói riêng.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Từ giữa thế kỷ 10, ở Châu Âu thời Trung cổ đã xuất hiện thuật ngữ Doceo được sử dụng như ngôn ngữ của nhà thờ Thiên chúa giáo có nghĩa là “tôi dạy học”. Với sự thống trị của nhà thờ Châu Âu thời Trung cổ giáo dục đại học phát triển nhất ở Pháp, Đế quốc La Mã và Phổ và một số nước khác như Hy Lạp cổ đại, và mở rộng tới Trung Quốc, Ấn Độ. Ở Pháp, vào năm 1215 được sự đồng ý của Giáo hoàng, thuật ngữ Doceo được sử dụng tại Trường đại học tổng hợp Paris. Giáo dục được chia thành ba cấp, cấp đầu tiên là bachelor (Baccalaureus), cấp thứ hai là magister (licentia ubiquite docendi) và cấp cao nhất là cấp Doctorate (licentia docendi).
Theo hệ thống giáo dục này, sau sáu năm học đại học để có bằng cử nhân, sinh viên sẽ phải học tiếp theo sáu năm nữa để có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ.org/wiki/doctor). Trong lịch sử phát triển đào tạo SĐH, luật học là môn học đầu tiên được các nhà trường Châu Âu cấp bằng Doctorate (Juris Doctor). Trường đại học tổng hợp Bologna là trường đầu tiên dạy các luật Canon và Roma và cấp bằng Doctorate cho các sinh viên học các môn này. Việc này kéo dài cho đến thế kỷ 13, khi các nhà trường ở các nước nói trên áp dụng việc cấp bằng Doctorate cho cả các môn thần học và y học và tiếp theo đó là cấp bằng Philocophie Doctor (Ph.
Hình thức này phổ biến ở Anh Quốc và các nước Châu Âu, đối với các nước Bắc Mỹ xuất hiện một hình thức đào tạo tương đương với Philocophie Doctor được gọi là Scientific Doctor (Dr. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Châu Âu, Bắc Mỹ là những nước đi đầu trên con đường phát triển đào tạo SĐH. Nhật Bản đến thời Minh Trị cũng đã chú ý đến đào tạo SĐH. Ra khỏi cuộc chiến tranh Nam - Bắc, Hàn Quốc cũng bắt tay vào sự nghiệp này mà nhờ đó Hàn Quốc đã đạt được những thành tích kinh tế diệu kỳ và trở thành nước NIC.
Theo Heather Eggins “Đào tạo tiến sĩ gắn bó chặt chẽ với nhân lực. Đối với bất cứ quốc gia nào, người có bằng tiến sĩ là nhân tố quan trọng trong nguồn nhân lực của quốc gia đó. Họ đóng góp đáng kể vào sự phát triển KH - CN của đất nước họ và là một phần của lực lượng KH - KT trên thế giới. Những tiến sĩ ở các lĩnh vực khác thì cung cấp những kỹ năng quý báu cho bất cứ nước nào họ đến làm việc [149].
Chính vì đào tạo nhân lực SĐH có ý nghĩa cực kỳ quan trọng như vậy nên việc nghiên cứu thực trạng, các xu thế phát triển của nó trong bối cảnh toàn cầu hóa đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học từ nhiều nước trên thế giới. Sau đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về đề tài này. Nghiên cứu về chính sách Nghiên cứu về chính sách có công trình của Keely Brian [158]. Trong công trình nghiên cứu về nhân lực của mình, tác giả nêu những tác động của toàn cầu hóa, công nghệ thông tin và viễn thông đến các quốc gia như dòng chảy nhân lực, khả năng tạo việc làm.
Xã hội hiện đại đòi hỏi những giá trị của các kỹ năng cao, các công việc phức tạp và sáng tạo. Như vậy hiệu quả kinh tế của các nước phải dựa vào tri thức, kỹ năng, tài năng và năng lực của nhân lực. Nghiên cứu về chính sách giáo dục Trong những công trình nghiên cứu về chính sách giáo dục có các công trình tiêu biểu của một số tác giả sau đây: - Zuber-Skerritt, Ortun Ed., Ryan, Yoni Ed. Vấn đề chất lượng trong đào tạo 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Kogan Page Limited, 1994 [175]. Đây là một tập hợp 12 công trình nghiên cứu về chất lượng, đặc trưng nghiên cứu của các trường đại học, các chương trình khuyến khích, đạt tới, duy trì và bảo đảm cả hai việc dạy học và nghiên cứu ở các trường đại học của VQ Anh và Australia. - Quy trình đào tạo tiến sĩ là công trình tập thể của các tác giả Dale F. Karp và Nicolas Cohen [138].
Cuốn sách cung cấp cho sinh viên mong muốn học SĐH những kiến thức cần thiết trong quá trình học SĐH để đạt hiệu quả cao. Đó là hướng dẫn các quy trình cần thiết về các giai đoạn khác nhau của quá trình đào tạo, đăng ký học cao học và tiến sĩ, chọn khóa học, thầy hướng dẫn và các đề án nghiên cứu. - William G, Bowen & Neil L [173]. Có công trình nghiên cứu tổng hợp về đào tạo SĐH ở Mỹ giai đoạn 1960 – 1990 trên cơ sở khảo sát hàng nghìn sinh viên SĐH.
Sau phần khảo sát các tác giả cũng đưa ra những hướng dẫn cho các sinh viên có nguyện vọng tiếp tục học SĐH. - Trong số các nhà khoa học dành nhiều tâm huyết cho nghiên cứu về đào tạo SĐH phải kể đến Phillip G. Altbach, một học giả làm việc tại Trung tâm Quốc tế về đào tạo đại học thuộc đại học Boston, Mỹ. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo đại học và SĐH như: “Đào tạo đại học trong thế kỷ mới” [128]; “Quốc gia đẳng cấp quốc tế nhưng lại thiếu trường đại học đẳng cấp quốc tế: tình thế khó xử của Ấn Độ” [127]; “Chi phí và lợi nhuận của trường đại học đẳng cấp quốc tế” [125], [126].
Trong các công trình này ông đã mô tả thực trạng chung và đặc điểm của đào tạo đại học và SĐH hiện nay và xu thế phát triển của nó trong điều kiện toàn cầu hóa, những cơ hội và thách thức cho các quốc gia chậm và đang phát triển và những tư tưởng đổi mới. Nghiên cứu về chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong nghiên cứu về chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đặc biệt đã có nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu các đặc trưng của các chính sách hợp tác quốc tế truyền thống cũng như hợp tác quốc tế trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. Sau đây là một số công trình tiêu biểu: - A. Zakri [174] – là Viện trưởng Viện Khoa học Tiên tiến thuộc Trường đại học Liên Hiệp Quốc.
Trong bài viết của mình ông nêu lên những thách thức đặt ra cho các quốc gia trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ (Millenium Development Goals – MDG). Để giải quyết được những thách thức đặt ra nhằm đạt được các mục tiêu MDG, theo tác giả, nghiên cứu R - D ở các trường đại học đóng vai trò rất lớn. Đặc biệt các trường đại học phải chú ý đến ba yếu tố: năng lực nghiên cứu, tính hữu dụng của nghiên cứu và sản phẩm nghiên cứu. Tác giả cũng đưa ra những số liệu thống kê về đầu tư từ GDP cho R - D, về tỷ lệ các nhà khoa học trên một triệu dân để thấy rõ những khó khăn của các nước đang phát triển.
- UNESCO luôn giành sự quan tâm, chú ý đúng mức cho đào tạo SĐH. Một trong những hoạt động của UNESCO trong lĩnh vực này là tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế. Gần đây nhất là Hội thảo quốc tế UNESCO “Các xu hướng và các vấn đề của đào tạo SĐH: Những thách thức cho nghiên cứu” được tổ chức tại Trường đại học Thành phố Dublin của CH Airland từ 5-7 tháng 3, 2008. Các báo cáo chính của Hội thảo là: - Heather Eggins, Các xu hướng và vấn đề trong giáo dục SĐH Tác giả đặt giáo dục SĐH trong bối cảnh toàn cầu hóa, những ảnh hưởng của nó đối với các nước trên thế giới nói chung và Châu Âu với sự phát triển của Quá trình Bologna, những lợi thế do giáo dục SĐH mang lại cho các nước khi xây dựng được nhân lực trình độ cao phục vụ cho chuỗi giá trị toàn cầu.
Các chính sách công về giáo dục SĐH, đặc biệt là đối với đào tạo tiến sĩ của các quốc gia mới nổi, sức hút nhân lực chất lượng cao trên thế giới 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến các nước phát triển đã tác động như thế nào đến các chính sách đào tạo SĐH của các chính phủ. Báo cáo cũng đề cập đến dòng chảy sinh viên ra nước ngoài và hậu quả của nó. Cuối cùng là một số giải pháp như nâng cao vai trò của trường đại học, quản lý chất lượng, cải tiến chương trình giảng dạy, chuyển dịch sang đào tạo tiến sĩ chuyên ngành (professional).3) - Mary-Louise Kearney, Giám đốc phụ trách ban thư ký của UNESCO đã đề cập đến những thách thức hiện tại của giáo dục SĐH như cung và cầu, chất lượng và hiệu quả mang lại cho cả hai phía: cơ sở giáo dục và người được đào tạo; Chính sách đổi mới cơ sở hạ tầng và năng lực nhân lực. Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò ngày càng tăng của các trường đại học trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt là các nước OECD đã đầu tư rất nhiều cho nghiên cứu ở các trường đại học từ đầu những năm 1990, trong đó có nghiên cứu trong giáo dục SĐH, coi đó là nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng trong giáo dục SĐH.
1-4) - Ulrich Teichler, Giám đốc Trung tâm Quốc tế về Đào tạo Đại học và Nghiên cứu, Trường đại học Kassel, CHLB Đức, nhấn mạnh đến ranh giới mờ nhạt hiện tại giữa đào tạo tiến sĩ học thuật (academic) và tiến sĩ chuyên ngành (professional). Trong điều kiện đó các nước công nghiệp có cách tiếp cận quốc gia đối với trình độ được công nhận, quy trình tiếp nhận và con đường nghề nghiệp của các tiến sĩ trong tương lai. Các nước trung bình và thu nhập thấp phải đối mặt với nhu cầu tăng nhanh về trình độ SĐH để phục vụ nhu cầu thị trường lao động. Tác giả cũng chỉ ra những nét chính về phương hướng đào tạo SĐH hiện nay.