Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ HỌC PHÍ CHO HỌC SINH TỪ BẬC HỌC MẦM NON ĐẾN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5 1. Chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh từ bậc học mầm non đến trung học phổ thông 1. Khái niệm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông Theo Khoản 1, Điều 23 Luật Giáo dục năm 2019, giáo dục MN là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục nhà trẻ và giáo dục mẫu giáo, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con người Việt Nam, thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 03 tháng tuổi đến 06 tuổi. Theo Khoản 2, Điều 6 và Điều 28 Luật Giáo dục năm 2019, Giáo dục phổ thông bao gồm các cấp học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân: giáo dục tiểu học, giáo dục THCS và giáo dục THPT, trong đó: - Giáo dục tiểu học được thực hiện trong 05 năm học, từ lớp một đến hết lớp năm.
Tuổi của học sinh vào học lớp một là 06 tuổi và được tính theo năm. - Giáo dục THCS được thực hiện trong 04 năm học, từ lớp sáu đến hết lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học. Tuổi của học sinh vào học lớp sáu là 11 tuổi và được tính theo năm.
- Giáo dục THPT được thực hiện trong 03 năm học, từ lớp mười đến hết lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp THCS. Tuổi của học sinh vào học lớp mười là 15 tuổi và được tính theo năm. - Trường hợp học sinh được học vượt lớp, học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định bao gồm: + Học sinh học vượt lớp trong trường hợp phát triển sớm về trí tuệ; + Học sinh học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định trong trường hợp học sinh học lưu ban, học sinh ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, học sinh là người dân tộc thiểu số, học sinh là người khuyết tật, học sinh kém phát triển về thể lực hoặc trí tuệ, học sinh mồ côi không nơi nương tựa, học sinh thuộc hộ nghèo, học sinh ở nước ngoài về nước và trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Khái niệm học sinh từ bậc học mầm non đến trung học phổ thông Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Học sinh là người học trong nhà trường”. Theo Điều 80 Luật Giáo dục năm 2019, “Người học là người đang học tập tại cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: Trẻ em của cơ sở giáo dục MN; học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông, lớp đào tạo nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trường trung cấp, trường dự bị đại học;. Vậy, qua các khái niệm trên, có thể hiểu: “Học sinh từ bậc học MN đến THPT là những những nhóm người học trong hệ thống giáo dục quốc dân sau: Trẻ em của cơ sở giáo dục MN từ 03 tháng đến 06 tuổi; học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm học sinh tiểu học từ 06 đến 11 tuổi; học sinh THCS từ 11 đến 15 tuổi; học sinh THPT từ 15 đến 18 tuổi và các trường hợp học sinh được học vượt lớp; học ở độ tuổi cao hơn tuổi quy định”. Khái niệm chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh từ bậc học mầm non đến trung học phổ thông “Chính sách công” là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên cho đến nay vẫn khó có thể đưa ra một định nghĩa duy nhất.
Song, có thể hiểu: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan tới nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển”. [9] Từ các khái niệm trên và theo quy định về “Học phí” tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 99 Luật giáo dục 2019, có thể hiểu: “Chính sách hỗ trợ học phí cho học sinh từ bậc học MN đến THPT là tập hợp các quyết định có liên quan tới nhau do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhằm hỗ trợ một phần hay toàn bộ khoản tiền mà học sinh MN, học sinh tiểu học trong cơ sở giáo dục tư thục ở địa bàn không đủ trường công lập, học sinh THCS, học 7 sinh THPT phải nộp để chi trả chi phí của dịch vụ giáo dục để giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục nhằm đạt được các mục tiêu phát triển”. Nội dung chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập 1. Căn cứ pháp lý Chính phủ ban hành Nghị định quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015-2016 đến năm học 2020-2021 căn cứ trên: - Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; - Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009; - Căn cứ Luật Giáo dục đại học ngày 18 tháng 6 năm 2012; - Căn cứ Luật Giáo dục nghề nghiệp ngày 27 tháng 11 năm 2014; - Căn cứ Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 23 tháng 11 năm 2009; - Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng ngày 29 tháng 6 năm 2005; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng ngày 16 tháng 7 năm 2012.
Mục tiêu Tạo công bằng xã hội trong giáo dục, đảm bảo ASXH nhằm đạt được các mục tiêu phát triển chung. Đối tượng được miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập - Đối tượng không phải đóng học phí: Đối tượng không phải đóng học phí tại các cơ sở giáo dục công lập bao gồm: Học sinh tiểu học; Học sinh, sinh viên sư phạm; Người học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục đại học. - Đối tượng được miễn học phí: Người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PL- 8 UBTVQH11 ngày 29 tháng 6 năm 2005, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 ngày 16 tháng 7 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh, sinh viên bị tàn tật, khuyết tật có khó khăn về kinh tế.
Trẻ em học mẫu giáo và học sinh dưới 16 tuổi không có nguồn nuôi dưỡng quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội. Người từ 16 tuổi đến 22 tuổi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội mà đang học phổ thông, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông có cha mẹ thuộc diện hộ nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Trẻ em học mẫu giáo và học sinh phổ thông là con của hạ sĩ quan và binh sĩ, chiến sĩ đang phục vụ có thời hạn trong lực lượng vũ trang nhân dân.
Học sinh, sinh viên hệ cử tuyển (kể cả học sinh cử tuyển học nghề nội trú với thời gian đào tạo từ 3 tháng trở lên). Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú, trường dự bị đại học, khoa dự bị đại học. Học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo và hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Sinh viên học chuyên ngành Mác - Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh các chuyên ngành: Lao, Phong, Tâm thần, Giám định pháp y, Pháp y tâm thần và Giải phẫu bệnh. 9 Học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số rất ít người ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. Sinh viên cao đẳng, đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh học các chuyên ngành trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Người tốt nghiệp trung học cơ sở học tiếp lên trình độ trung cấp.
Người học các trình độ trung cấp, cao đẳng, đối với các ngành, nghề khó tuyển sinh nhưng xã hội có nhu cầu theo danh mục do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở Trung ương quy định. Người học các ngành chuyên môn đặc thù đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH, quốc phòng, an ninh theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp. Trẻ em học lớp mẫu giáo 05 tuổi ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có cha mẹ hoặc có cha hoặc có mẹ hoặc có người chăm sóc trẻ em hoặc trẻ em thường trú ở xã, thôn đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và cấp có thẩm quyền. - Đối tượng được giảm học phí: + Các đối tượng được giảm 70% học phí gồm: Học sinh, sinh viên học các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường văn hóa - nghệ thuật công lập và ngoài công lập, gồm: Nhạc công kịch hát dân tộc, nhạc công truyền thống Huế, đờn ca tài tử Nam Bộ, diễn viên sân khấu kịch hát, nghệ thuật biểu diễn dân ca, nghệ thuật ca trù, nghệ thuật bài chòi, biểu diễn nhạc cụ truyền thống; Học sinh, sinh viên các chuyên ngành nhã nhạc, cung đình, chèo, tuồng, cải lương, múa, xiếc; một số nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với giáo dục nghề nghiệp.