chương I đã định nghĩa DNVVN như sau: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người" LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Như vậy, theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các hộ kinh doanh cá thể nếu không có đăng ký kinh doanh, không được gọi là DN, mặc dù số hộ này vẫn thực hiện các hoạt động kinh doanh hợp pháp, được thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự giống như DN. Do đó, ở nước ta, quan niệm về DN có hai phạm vi rõ rệt: Phạm vi hẹp chỉ bao gồm các DN chính thức đã đăng ký với tư cách tên gọi là DN; phạm vi rộng bao gồm cả các hộ gia đình kinh doanh hợp pháp và các tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh dưới danh nghĩa các tổ chức sự nghiệp có thu. Trong một nền kinh tế, tùy theo các tiêu chí khác nhau mà người ta phân ra các loại DN khác nhau. Theo ngành kinh tế có thể chia ra DN công nghiêp, DN nông nghiệp, DN thương mại dịch vụ; theo tính chất hoạt động thì có DN hoạt động công ích (phi lợi nhuận) và DN kinh doanh (vị lợi); theo hình thức sở hữu thì có DNNN, DNDD và DN có vốn đầu tư nước ngoài; theo quy mô, mà chủ yếu là quy mô về vốn và lao động thì có DN lớn, DNVVN.
Các DNVVN là loại hình DN có số lượng áp đảo ở hầu hết các nước. Có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về DNVVN. Các định nghĩa này có những điểm giống nhau và khác nhau, vì vậy khó mà tìm được một định nghĩa thống nhất, mặc dù ai cũng thống nhất rằng kinh doanh vừa và nhỏ thì khối lượng công việc ít hơn, đơn giản hơn là kinh doanh ở các DN lớn. Hiện nay, không có một tiêu chuẩn chung cho việc phân định ranh giới quy mô DN ở các nước.
Ở mỗi nước, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể mà có cách xác định quy mô DN trong từng giai đoạn nhất định.1 dưới đây cho thấy tình hình này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Tiêu thức phân loại DNVVN của một số nước Lĩnh vực Công nghiệp Thương mại - Dịch vụ Các DN vừa DN nhỏ DN vừa DN nhỏ nước Mỹ Dưới 3,5 triệu Dưới 3,5 triệu USD USD Dưới 500 lao Dưới 500 lao động động Nhật bản Dưới 100 triệu 10-30 triệu Yên Yên Dưới 20 lao động Dưới 100 lao Dưới 5 lao Dưới 300 lao động động động CHLB 1đến<100 triệu Dưới 1 triệu DM 1-100 triệu DM Dưới 1 triệu Đức DM Dưới 9 lao động 10-<500 lao động DM 10-<500 lao Dưới 9 lao động động Philippin 15-60 triệu Peso < 15 triệu Peso 15-60 triệu Peso < 15 triệu Không quy định Không q/định lđ Không quy định Peso lđ lđ Không q/định lđ Đài Loan 1,6 triệu USD 1,6 triệu USD 4-10 lao động 4-10 lao động Nguồn: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Ngoài ra, còn có định nghĩa chung của EU, có hiệu lực áp dụng từ tháng 6/1996: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 DNVVN là các DN tư nhân và độc lập, trong khu vực phi sơ cấp, không bao gồm các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, sử dụng dưới 200 công nhân. Trong khu vực DNVVN có sự phân loại như sau theo quy mô: DN siêu nhỏ: sử dụng dưới 10 công nhân; DN nhỏ: sử dụng từ 10 đến 49 nhân công và có doanh thu hàng năm dưới 7 triệu ECU; DN vừa: sử dụng từ 50 đến 249 nhân công và có doanh thu hàng năm dưới 40 triệu ECU. Các quan điểm của chính quyền nhà nước về doanh nghiệp vừa và nhỏ Từ nhiều năm trước, khi Chính phủ chưa ban hành chính thức tiêu chí quy định DNVVN, một số cơ quan và nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí và tiêu chuẩn cụ thể khác nhau để phân loại DNVVN.
Có thể kể ra các cách phân loại tiêu biểu sau: - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) căn cứ vào 2 tiêu chí lao động và vốn của các ngành để phân biệt: + Trong ngành công nghiệp: DNVVN là tổ chức kinh tế có số vốn từ 5÷10 tỷ đồng và có số lao động 200÷500 người. Trong đó DN nhỏ có số vốn dưới 5 tỷ đồng và có số lao động nhỏ hơn 200 người. + Trong ngành thương mại- dịch vụ: DNVVN là tổ chức có số vốn từ 5÷10 tỷ đồng và có số lao động từ 50÷100 người. - Ngân hàng Công thương hoạt động cho vay tín dụng đối với các DN quy định rằng: DN vừa là DN có vốn từ 5÷10 tỷ đồng và số lao động từ 500÷1000 người, DN nhỏ là DN có vốn dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 500 người; - Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, DN có vốn dưới 1 tỷ đồng và dưới 100 lao động được xếp là DN nhỏ, DN có vốn từ 1÷10 tỷ đồng và có từ 100÷500 lao động là DN vừa.
Trong lĩnh vực thương mại-dịch vụ, DN có vốn từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng, lao động từ 50÷250 người là DN vừa… Tóm lại, người ta thường dùng 2 tiêu chí về vốn đăng ký và số lao động thường xuyên để xác định DNVVN vì tất cả các DN đều có thể xác định được 2 tiêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 chí này. Riêng tiêu thức doanh thu ít được sử dụng vì đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam thì tiêu chí này có thể biến động do nhiều yếu tố và cũng khó xác định. Để thống nhất tiêu chí xác định DNVVN, ngày 20/6/1998, Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-KTN quy định tiêu chí tạm thời xác định các DNVVN. Theo quy định này, DNVVN là các DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và có số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người.
Quy định tạm thời này chỉ tồn tại khoảng 3 năm và ngày 23/11/2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/2001/NĐ- CP về trợ giúp phát triển DNVVN, theo quy định tại Nghị định này, DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế- xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên. Với tiêu thức phân loại mới này, DNVVN ở nước ta chiếm tỷ trọng khoảng 90% trong tổng số DN hiện nay, trong đó phần lớn là các DN thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều này phù hợp với tình hình kinh tế của nước ta vốn là nền kinh tế sản xuất vừa và nhỏ là chủ yếu.
Sự cần thiết của việc phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, DNNVV có vị trí đặc biệt quan trọng, thể hiện qua các mặt dưới đây: Tạo việc làm cho người lao ðộng Ðây là một thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến chúng ta phải đặc biệt trú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay. Khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện thu hút khoảng 25÷26% lực lượng lao động phi nông nghiệp của cả nước, nhưng triển vọng thu hút thêm lao động rất lớn vì suất đầu tư cho một chỗ làm việc ở đây thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn, chủ yếu là do chi phí thấp và thu hút được nguồn vốn rải rác trong dân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Ðóng góp vào tăng trưởng kinh tế Mỗi năm, DNNVV đóng góp khoảng 25%÷26% GDP của cả nước. Các DNNVV ở Việt Nam đã cung cấp ra thị trường nhiều loại sản phẩm khác nhau, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành tiểu thủ công nghiệp cũng như các hàng hoá tiêu dùng khác.
Ðảm bảo cho nền kinh tế năng động hơn Do yêu cầu vốn ít, quy mô nhỏ, DNNVV có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công nghệ… làm cho nền kinh tế năng động hơn. Tãng thu nhập cho dân cư Thu nhập của dân ta còn quá thấp, do kinh tế chậm phát triển. Phát triển DNNVV ở thành thị cũng như nông thôn là biện pháp chủ yếu để tăng thu nhập, đa dạng hóa thu nhập của các tầng lớp nhân dân khắp các vùng trong cả nước, góp phần rất quan trọng thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Góp phần thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện ðại hóa Việc phát triển DNNVV sẽ tạo ra những chuyển biến hết sức quan trọng về cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế, từ một nền kinh tế nhỏ, thuần nông là chủ yếu sang nền kinh tế có cơ cấu theo hướng hiện đại.
Góp phần ðào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn một đội ngũ doanh nhân mới trong kinh tế thị trường Các DNNVV là nơi đào tạo, rèn luyện cho các nhà quản lý DN. Với quy mô vừa và nhỏ là môi trường thuận lợi cho các nhà quản lý DN làm quen với môi trường kinh doanh. Bắt đầu từ đây một số nhà quản lý DN đã trưởng thành lên những nhà quản lý DN lớn, tài ba, biết đưa DN của mình nhanh chóng phát triển. Ðây là vấn đề quan trọng bởi ở Việt Nam trong nhiều năm đội ngũ các nhà quản lý DN gắn liền với cơ chế bao cấp nên chưa có kinh nghiệm với kinh tế thị trường.
Tóm lại, DNNVV có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước và vai trò này ngày càng được tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hóa, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 hiện đại hóa, bởi DNNVV đang là động lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, huy động vốn trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đặc điểm doanh nghiệp vừa và nhỏ Ðặc ðiểm của các DNVVN xuất phát trước hết từ chính quy mô của doanh nghiệp. Cũng như các DNVVN trên thế giới, với quy mô nhỏ, DNVVN Việt nam cũng có những đặc điểm tương tự như ở các quốc gia khác.