Chương 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA NHẬT BẢN ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC DƯỚI THỜI THỦ TƯỚNG SHINZO ABE 1. Một số lý thuyết quan hệ quốc tế 1. Khái niệm về chính sách đối ngoại Chính sách đối ngoại (Foreign policy) còn được gọi là chính sách ngoại giao, bao gồm các chiến lược do nhà nước lựa chọn để bảo vệ lợi ích của quốc gia mình và đạt được các mục tiêu trong môi trường quan hệ quốc tế. Vì lợi ích quốc gia là tối quan trọng, các chính sách đối ngoại được chính phủ thiết kế thông qua các quy trình ra quyết định cấp cao.
Chính sách đối ngoại của một quốc gia là tập hợp các chiến lược mà quốc gia đó sử dụng trong quá trình tương tác với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế, trên cách lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa – xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu khác nhau phù hợp với lợi ích của quốc gia đó. Chính sách đối ngoại thường được coi là cánh tay nối dài của chính sách đối nội, mục tiêu định hướng ban đầu của chính sách đối ngoại là mở rộng tầm ảnh hưởng của quốc gia trong quan hệ quốc tế, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, đạt được sự thịnh vượng về kinh tế, hay bảo vệ và tối đa hóa lợi ích quốc gia nói chung, thông qua các con đường như hợp tác, cạnh tranh, xung đột, hoặc thậm chí chiến tranh. Vai trò của chính sách đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng, đặc biệt trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, khi không quốc gia nào có thể tồn tại biệt lập và sự giao lưu, hợp tác ngày càng được chú trọng. Các nhân tố chủ chốt quyết định chính sách đối ngoại của một quốc gia bao gồm: - Thế và lực của quốc gia trên trường quốc tế; 5 - Tình hình chính trị và an ninh thế giới; - Mục tiêu quốc gia mong muốn đạt được; - Ảnh hưởng của bộ máy hoạch định chính sách đối ngoại; và - Các nhân tố chính trị nội bộ (nhóm lợi ích, giới truyền thông, công luận,…) Chính sách đối ngoại của các nước lớn trên thế giới, hoặc của các cường quốc trong khu vực luôn được các quốc gia khác trong khu vực đó và trên thế giới quan tâm nghiên cứu đặc biệt, bởi chính sách của các nước này không chỉ liên quan đến lợi ích của các quốc gia riêng lẻ, mà còn có khả năng tác động rất lớn đến tình hình hòa bình, ổn định và phát triển của cả khu vực hoặc toàn thế giới.
Các lý thuyết quan hệ quốc tế Lý thuyết quan hệ quốc tế là một tập hợp các góc nhìn, cách tiếp cận, mô hình, cũng như những cách lý giải về các hiện tượng diễn ra trong nền chính trị thế giới. Khóa luận tập trung phân tích ba lý thuyết cơ bản: lý thuyết Hiện thực, lý thuyết Tự do và lý thuyết Kiến tạo, là những lý thuyết mà các quốc gia thường dùng để giải thích quan hệ quốc tế, hoạch định chính sách đối ngoại. - Chủ nghĩa hiện thực Đây là trường phái lý thuyết lâu đời và quan trọng nhất trong quan hệ quốc tế. Những luận điểm cơ bản nhất của chủ nghĩa Hiện thực có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với tư duy hoạch định chính sách đối ngoại của các quốc gia: Các nhà lãnh đạo chính trị phải tạo dựng sức mạnh tổng hợp để bảo vệ và tăng cường an ninh quốc gia.
Phát huy nội lực, đồng thời tăng cường sức mạnh thông qua liên minh với nước khác để chống lại các mối đe dọa tiềm tàng. Các quốc gia phải tìm cách nâng cao quyền lực, tự bảo đảm an ninh và sự tồn tại của mình thông qua việc cố gắng giành được càng nhiều nguồn lực càng tốt. Tuy nhiên, cuộc chạy đua tranh giành quyền lực dẫn tới các quốc gia phải đối mặt với một “thế lưỡng nan về an ninh ”. Bởi, khi một quốc gia càng tìm cách gia tăng quyền lực của mình thì càng làm cho các quốc gia khác bất an, buộc các 7 đổi quan hệ quốc tế theo hướng tích cực hơn.
Giảm sử dụng quyền lực quân sự trong quan hệ quốc tế, an ninh và phát triển kinh tế. Lý thuyết chủ nghĩa Tự do trong quan hệ quốc tế liên quan đến việc giảm sử dụng quyền lực quân sự; chứng minh luận điểm quyền lực kinh tế hiệu quả hơn so với sức mạnh quân sự. Theo lý thuyết Tự do, chính trị ở cấp độ quốc tế là cuộc đấu tranh vì sự đồng thuận và lợi ích chung hơn là cuộc đấu tranh vì quyền lực và danh thế. Chủ nghĩa Tự do phân tích, phê phán các điều kiện mà con người đang sống, để tìm ra nguyên nhân gây ra chiến tranh, xung đột quốc tế.
Dựa trên sự khoan dung, chung sống và các quyền về văn hóa, chính trị, dân chủ… để giải quyết xung đột. Chủ nghĩa tự do cho rằng, lợi ích kinh tế cũng quan trọng như lợi ích an ninh và xét cho cùng, phát triển kinh tế là một cách để bảo đảm an ninh; nguy cơ nghèo nàn, lạc hậu và tụt hậu về kinh tế đe dọa quốc gia từ bên ngoài cũng như từ bên trong. Vì vậy, phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu, hợp tác quốc tế là cần thiết, đồng thời ở một góc độ nhất định, các thể chế quốc tế và công ty đa quốc gia có vai trò quan trọng hơn vì cần thiết cho hợp tác quốc tế cũng như phát triển kinh tế 2. - Chủ nghĩa Kiến tạo Một số điểm quan trọng của chủ nghĩa Kiến tạo về quan hệ quốc tế: Bản sắc quốc gia là cơ sở quan trọng định hình mục tiêu, chính sách đối ngoại, phát triển của quốc gia.
Theo lý thuyết Kiến tạo, bản sắc, các tiêu chuẩn, niềm tin và các giá trị cũng mang tính cấu trúc và ảnh hưởng mạnh mẽ lên các hoạt động chính trị - xã hội. Lý thuyết Kiến tạo nhấn mạnh tầm quan trọng của những cấu trúc tiêu chuẩn so với cấu trúc vật chất. Theo đó, mỗi quốc gia có bản sắc riêng, giúp định hình các mục tiêu an ninh, chính sách đối ngoại hay phát triển kinh tế mà quốc gia đó theo đuổi. Tuy nhiên, cách thức mà các quốc gia hiện thực hóa các mục tiêu này như thế nào lại phụ thuộc vào bản sắc xã hội, hay là cách các quốc gia nhận thức về bản thân mình trong mối quan hệ với các 2 Nguyễn Hoàng Như Thanh: “Sự thống nhất của các trường phái lý luận QHQT Mô hình duy lý về hành vi quốc gia” http://nghiencuuquocte.org/2016/05/24/mo-hinh-duy-ly-ve-hanh-vi-quoc-gia/more-16205.
8 quốc gia khác trong quan hệ quốc tế. Các quốc gia xác định mục tiêu, chính sách đối ngoại và lợi ích quốc gia của mình dựa trên cơ sở bản sắc quốc gia. Mỗi quốc gia có thể có nhiều bản sắc khác nhau, các bản sắc này có thể mang tính hợp tác hoặc xung đột, và lợi ích của quốc gia cũng biến đổi tùy thuộc vào bản sắc mà quốc gia xác định. Nói cách khác, các quốc gia xác định lợi ích của mình bằng cách diễn giải bối cảnh xã hội mà họ tham gia.
Lợi ích tự phát sinh bên trong mỗi chủ thể qua quá trình tương tác, xuất phát từ các đặc tính có được thông qua quá trình học hỏi hay các tiến trình giao tiếp khác. Đồng thời, phản ánh kinh nghiệm và vai trò quyền lực của chủ thể quốc gia. Khái quát chính sách đối ngoại của Nhật Bản đối với Trung Quốc trước năm 2006 Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, quan hệ Nhật - Trung rơi vào tình trạng đối đầu do chịu ảnh hưởng của cuộc chiến tranh lạnh, mặc dù không ít lần giới lãnh đạo hai nước tìm cách bình thường hoá quan hệ ngoại giao song đều vấp phải sự cản trở của Mỹ. Vì vậy cho đến khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao vào năm 1972, quan hệ giữa hai nước chỉ được duy trì qua kênh mậu dịch.
Song, việc Mỹ bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc đã tạo điều kiện để hai nước bình thường hoá quan hệ, tháng 9-1972, thủ tướng Nhật Bản Tanaka và Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã kí vào bản tuyên bố chung đánh dấu sự chấm dứt đối đầu giữa hai nước. Sau khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao, quan hệ giữa hai nước phát triển nhanh chóng nhất là trên lĩnh vực kinh tế nhưng do vào thời điểm này Mỹ vẫn chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc nên quan hệ Nhật - Trung vẫn còn nhiều hạn chế và chỉ từ những năm cuối của thập kỉ 70 khi Mĩ và Trung Quốc chính thức kí hiệp định thiết lập quan hệ ngoại giao thì quan hệ Nhật - Trung mới phát triển một cách toàn diện hơn. Với quan điểm “sự ổn định và phát triển của Trung Quốc có ý nghĩa rất lớn đối với sự ổn định và phát triển của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương” và “thị trường khổng lồ của Trung 9 Quốc là rất cần cho nền kinh tế dựa vào ngoại thương” của Nhật Bản và quan điểm “vốn và kĩ thuật của Nhật Bản rất cần đối với phát triển kinh tế” của Trung Quốc chính là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ như vậy. Trong lĩnh vực kinh tế hai nước nhanh chóng trở thành những đối tác quan trọng của nhau, Nhật Bản đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc và Trung Quốc cũng đã vươn lên thành bạn hàng lớn thứ hai của Nhật Bản sau Mỹ.
Chẳng hạn năm 2001 kim ngạch ngoại thương hai chiều giữa Nhật Bản và Trung Quốc đạt 88,89 tỉ USD chiếm xấp xỉ khoảng 20% tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc. Ngoài ra còn một điểm nổi bật trong quan hệ kinh tế giữa hai nước là việc Nhật Bản tiến hành viện trợ ODA rất lớn cho Trung Quốc. Mặc dù là nước nhận được viện trợ ODA tương đối muộn so với các nước, nhưng cho đến nay Trung Quốc là nước nhận được nhiều viện trợ lớn thứ hai của Nhật Bản sau Indonesia với điều kiện ưu đãi hơn các nước khác là được viện trợ theo từng kế hoạch 5 năm của Trung Quốc, điều này đã góp phần rất lớn vào việc phát triển kinh tế của Trung Quốc. Mặc dù vậy quan hệ Nhật - Trung cũng còn tồn tại nhiều vấn đề đã và sẽ còn tác động vào quan hệ giữa hai nước như vấn đề sách giáo khoa lịch sử, vấn đề lãnh thổ, vấn đề Đài Loan và gần đây là va chạm kinh tế.