Tổng quan nghiên cứu

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là đòn bẩy cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên kinh tế tri thức. Tại Việt Nam, mạng lưới giáo dục đại học đã mở rộng lên đến 409 trường đại học và cao đẳng, trong đó có tới 307 cơ sở được thành lập mới hoặc nâng cấp trong giai đoạn cải cách giáo dục. Tuy nhiên, khả năng đưa các sáng chế và công nghệ từ trường viện vào thực tiễn sản xuất công nghiệp vẫn còn gặp nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Mặc dù hệ thống thể chế đã ban hành hơn 130 văn bản quy phạm pháp luật trong giai đoạn 2011 đến giữa năm 2013 nhằm thúc đẩy thị trường khoa học và công nghệ, nhưng tỷ lệ công nghệ trường đại học được chuyển giao cho khu vực sản xuất vẫn duy trì ở mức dưới 15% tổng số đề tài nghiệm thu.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ sự thiếu đồng bộ giữa cơ chế quản lý khoa học truyền thống với nhu cầu thực tế của thị trường, khi hơn 90% doanh nghiệp trong nước thuộc quy mô vừa và nhỏ với năng lực hấp thụ công nghệ còn hạn chế. Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm phân tích thực trạng chính sách đổi mới, khảo sát sâu quá trình thương mại hóa công nghệ tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, từ đó kiến tạo khung chính sách đổi mới lấy doanh nghiệp làm trung tâm để thúc đẩy dòng luân chuyển tri thức từ trường đại học vào doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu tập trung khảo sát dữ liệu thực chứng từ năm 2000 đến năm 2014 trên bình diện cả nước và điển cứu chuyên sâu tại địa bàn Hà Nội. Ý nghĩa nghiên cứu mang lại cơ sở khoa học và thực tiễn để tái cơ cấu chính sách khoa học công nghệ, nâng cao hệ số đóng góp của tiến bộ kỹ thuật vào tăng trưởng kinh tế xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết đổi mới của Joseph Schumpeter (1934), coi đổi mới là quá trình phá hủy sáng tạo nhằm tạo ra sản phẩm mới, quy trình mới hoặc thị trường mới do doanh nhân khởi xướng. Để làm rõ vai trò của các chủ thể trong nền kinh tế tri thức, khung phân tích Hệ thống Đổi mới Quốc gia (NIS) của Freeman (1987), Lundvall (1992) và Nelson (1993) được vận dụng nhằm xác lập mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước, Viện trường và Doanh nghiệp theo mô hình Ba Nhà (Triple Helix). Khung lý thuyết này chỉ rõ hai nguyên nhân căn bản đòi hỏi sự can thiệp của chính sách công: thất bại thị trường (market failure) do tính rủi ro cao của hoạt động nghiên cứu phát triển và thất bại hệ thống (system failure) do sự đứt gãy kết nối giữa bên cung và bên cầu công nghệ theo phân tích của Metcalfe (2000).

Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm: Đổi mới sáng tạo (Innovation) là quá trình biến đổi tri thức thành sản phẩm hoặc quy trình được thị trường chấp nhận; Thương mại hóa kết quả nghiên cứu là chuỗi hoạt động chuyển giao tri thức từ phòng thí nghiệm ra thị trường tiêu thụ; Văn phòng Chuyển giao Công nghệ (TLO) là tổ chức trung gian thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và đàm phán cấp phép bản quyền. Về mô hình chuyển hóa, luận văn dẫn chứng công bố của Dhewanto và cộng sự (2009) chỉ ra rằng trung bình trong 100 ý tưởng khoa học chỉ có 10 dự án phát triển khả thi, và cuối cùng chỉ có khoảng 1 đến 2 dự án thương mại hóa thành công mang lại lợi nhuận thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp trong khung thời gian nghiên cứu từ năm 2000 đến năm 2014. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp có hệ thống từ Cục Sở hữu trí tuệ, Tổng cục Thống kê, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng các báo cáo tổng kết hoạt động nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 25 chuyên gia và nhà quản lý am hiểu sâu sắc về hệ sinh thái đổi mới. Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) nhằm đảm bảo tính đại diện đa chiều, bao gồm: 12 giảng viên và nhà khoa học có hoạt động sáng chế tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ; 03 chuyên gia hoạch định chính sách thuộc Trường Quản lý Khoa học và Công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ); cùng 10 cán bộ quản trị công nghệ và lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn Hà Nội.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp phân tích logic hệ thống là nhằm mổ xẻ các rào cản thể chế phức tạp, đánh giá mức độ tương thích giữa các văn bản quy phạm pháp luật với hành vi thực tế của nhà khoa học và doanh nghiệp. Phương pháp so sánh quốc tế được áp dụng với các điển hình như Luật Bayh-Dole của Hoa Kỳ, Luật Khuyến khích chuyển giao công nghệ năm 1999 của Nhật Bản và mạng lưới Viện Fraunhofer tại Đức để đúc kết bài học phù hợp cho Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, năng lực hấp thụ và nhu cầu đổi mới công nghệ của khối doanh nghiệp Việt Nam còn ở mức thấp. Hơn 90% doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp vừa và nhỏ, sở hữu công nghệ sản xuất lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ so với khu vực, trong khi nguồn vốn tự có dành cho nghiên cứu và triển khai (R&D) chỉ chiếm dưới 0,5% tổng doanh thu hàng năm. Doanh nghiệp chủ yếu tìm kiếm công nghệ hoàn thiện có khả năng sinh lời ngay thay vì mạo hiểm hợp tác đầu tư nghiên cứu các công nghệ dạng phôi từ trường đại học.

Thứ hai, hoạt động đăng ký sở hữu trí tuệ và chuyển giao kết quả nghiên cứu tại các trường đại học còn rất hạn chế so với tiềm năng học thuật. Thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ giai đoạn 2000 - 2014 cho thấy số lượng đơn đăng ký sáng chế và giải pháp hữu ích từ các trường đại học, viện nghiên cứu chiếm tỷ trọng khiêm tốn dưới 10% tổng số đơn trong nước, thậm chí thấp hơn số lượng đơn của các nhà sáng chế cá nhân không chuyên. Tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, dù sở hữu đội ngũ cán bộ khoa học trình độ cao hàng đầu cả nước, doanh thu từ các hợp đồng chuyển giao công nghệ và li-xăng sáng chế hàng năm chỉ đóng góp khoảng 5% đến 8% trong tổng ngân sách hoạt động của trường.

Thứ ba, sự thiếu vắng các thiết chế trung gian và văn phòng chuyển giao công nghệ (TLO) chuyên nghiệp. Hầu hết các thỏa thuận hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp dừng lại ở mức hợp đồng cung cấp dịch vụ kỹ thuật đơn lẻ hoặc đào tạo ngắn hạn, thiếu vắng các doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ (spin-off) bền vững. Trong khi tại Nhật Bản, sau khi ban hành Luật TLO năm 1999, đã có 43 trường đại học thành lập văn phòng TLO vào năm 2003, tạo ra 1.236 hợp đồng chuyển giao sáng chế cho doanh nghiệp và 614 doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ.

Thứ tư, khung chính sách còn phân tán và chưa thực sự lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Dù Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 cùng các văn bản như Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 80/2007/NĐ-CP đã mở ra hành lang pháp lý, quy định tác giả sáng chế được hưởng từ 20% đến 35% giá trị hợp đồng chuyển giao, nhưng các rào cản về thủ tục định giá tài sản công và cơ chế quản lý tài chính công lập khiến giảng viên e ngại triển khai thương mại hóa.

Thảo luận kết quả

Thực trạng thương mại hóa mờ nhạt tại các trường đại học bắt nguồn sâu xa từ sự sai lệch trong động lực nghiên cứu. Giảng viên đại học chịu áp lực chính từ tiêu chí đánh giá số lượng bài báo khoa học và khối lượng giờ giảng lý thuyết, thay vì tạo ra các sản phẩm công nghệ có khả năng ứng dụng thực tế. Dữ liệu khảo sát chuyên gia chỉ ra khoảng cách rất lớn giữa kết quả nghiên cứu hàn lâm (thường dừng lại ở mức phòng thí nghiệm TRL 3-4) với đòi hỏi công nghệ thực tế của doanh nghiệp (yêu cầu kiểm định ở mức TRL 7-8).

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ phân bổ cơ cấu chủ thể nộp đơn sáng chế tại Việt Nam, thể hiện khoảng trống rõ rệt của khối viện trường so với khu vực doanh nghiệp nước ngoài. Đồng thời, bảng so sánh đối sánh quốc tế minh chứng rằng: tại Hoa Kỳ, việc trao quyền sở hữu sáng chế tạo ra từ ngân sách liên bang cho trường đại học thông qua Luật Bayh-Dole đã giúp các trường thu về 1,306 tỷ USD tiền bản quyền vào năm 2003 và duy trì hoạt động của 2.279 doanh nghiệp khởi nghiệp; tại Đức, mạng lưới 66 Viện Fraunhofer năm 2012 đạt doanh thu 1,9 tỷ Euro với 1,6 tỷ Euro đến từ các hợp đồng nghiên cứu đặt hàng của công nghiệp. Điều này khẳng định nếu thiếu một cơ chế liên kết ba bên rõ ràng và tổ chức TLO đóng vai trò cầu nối, mọi ý tưởng sáng chế sẽ bị mắc kẹt tại giai đoạn thử nghiệm mẫu (chết trong thung lũng chết công nghệ).

Đề xuất và khuyến nghị

Để biến khoa học công nghệ thành động lực phát triển then chốt, hệ thống chính sách đổi mới cần chuyển dịch dứt khoát sang định hướng lấy doanh nghiệp làm trung tâm thông qua 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ và phân chia lợi nhuận. Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ cần ban hành quy định giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước trực tiếp cho cơ quan chủ trì nghiên cứu là trường đại học. Thực hiện cam kết trích tối thiểu 30% đến 35% lợi nhuận thu được từ thương mại hóa để chi trả thù lao cho tác giả, đồng thời bảo đảm cơ chế trích lập quỹ phát triển khoa học công nghệ tại đơn vị. Thời hạn hoàn thành đồng bộ văn bản hướng dẫn trong giai đoạn 1 đến 2 năm tới.

Thứ tư, tái cấu trúc chính sách ưu đãi tài chính và thuế nhằm kích cầu công nghệ từ doanh nghiệp. Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ sửa đổi chính sách thuế, cho phép doanh nghiệp được trích tối đa 10% đến 15% thu nhập tính thuế trước khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ. Đưa ra cơ chế khấu trừ 150% chi phí doanh nghiệp thực tế ký hợp đồng đặt hàng R&D với các trường đại học kỹ thuật nhằm kích thích mạnh mẽ dòng tiền đầu tư tư nhân vào trường viện.

Thứ ba, thiết lập và chuẩn hóa mô hình Văn phòng Chuyển giao Công nghệ (TLO) và Vườn ươm công nghệ trong trường đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Đại học Bách khoa Hà Nội và các trường đại học hàng đầu đầu tư xây dựng thí điểm 5 văn phòng TLO chuyên trách trong vòng 3 năm. Văn phòng TLO chịu trách nhiệm điều tra nhu cầu công nghệ thị trường, thẩm định sáng chế, đàm phán hợp đồng li-xăng và hỗ trợ hình thành các doanh nghiệp spin-off.

Thứ tư, thúc đẩy hợp tác liên kết đào tạo - nghiên cứu dựa trên bài toán thực tế của doanh nghiệp. Các cơ sở giáo dục đại học đổi mới cơ chế phân bổ thời gian của giảng viên, dành tối thiểu 20% đến 30% quỹ thời gian làm việc để thực hiện các dự án giải quyết vấn đề kỹ thuật tại doanh nghiệp. Xây dựng các phòng thí nghiệm liên kết (Joint Lab) giữa Đại học Bách khoa Hà Nội với các tập đoàn công nghiệp lớn với mục tiêu chuyển giao thành công 15 đến 20 công nghệ trọng điểm mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng then chốt trong hệ sinh thái đổi mới:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng các cơ quan xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Luận văn cung cấp luận cứ thực chứng để sửa đổi Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Khoa học và Công nghệ, giúp chuyển dịch chính sách từ hỗ trợ đầu vào nghiên cứu sang kích cầu thị trường và thúc đẩy đổi mới công nghệ lấy doanh nghiệp làm trung tâm.

Nhóm thứ hai là ban giám hiệu, lãnh đạo phòng quản lý nghiên cứu khoa học và cán bộ chuyển giao công nghệ tại các trường đại học, viện nghiên cứu. Các cơ sở giáo dục kỹ thuật có thể tham khảo trực tiếp mô hình tổ chức Văn phòng TLO, quy chế phân phối quyền sở hữu trí tuệ và phương thức liên kết R&D thực tế tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội để thiết lập cơ chế nội bộ hiệu quả.

Nhóm thứ ba là các nhà quản trị doanh nghiệp, giám đốc R&D và các nhà đầu tư công nghệ. Luận văn giúp khối doanh nghiệp nhận diện phương thức tiếp cận nguồn tri thức học thuật chất lượng cao, các chính sách ưu đãi tài chính và kinh nghiệm đàm phán hợp đồng li-xăng sáng chế an toàn, tối ưu chi phí đổi mới quy trình sản xuất.

Nhóm thứ tư là các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản trị Đổi mới sáng tạo, Quản lý Kinh tế. Luận văn đóng vai trò tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tiếp cận hệ thống, kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia và khung lý thuyết Ba Nhà trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm đổi mới sáng tạo trong luận văn được định nghĩa như thế nào?
Đổi mới sáng tạo được định nghĩa là toàn bộ quá trình biến đổi các ý tưởng khoa học hoặc sáng chế kỹ thuật thành các sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ mới được thương mại hóa thành công và được thị trường tiêu dùng chấp nhận. Khác với phát minh tiêu tốn nguồn lực để tạo ra tri thức, đổi mới sáng tạo biến tri thức thành giá trị kinh tế xã hội thực tế.

Vì sao doanh nghiệp phải là trung tâm của hệ thống đổi mới quốc gia?
Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tham gia cạnh tranh trên thị trường, nơi phát sinh nhu cầu công nghệ thực tế và là đích đến cuối cùng để ứng dụng kết quả R&D. Khi chính sách lấy doanh nghiệp làm trung tâm, các nghiên cứu từ trường đại học mới bám sát bài toán thị trường, hạn chế tối đa tình trạng đề tài nghiên cứu bị cất ngăn kéo.

Mô hình TLO từ kinh nghiệm của Nhật Bản và Hoa Kỳ đem lại hiệu quả gì?
Văn phòng TLO đóng vai trò cầu nối chuyên nghiệp bảo vệ tài sản trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tại Nhật Bản, Luật TLO 1999 đã giúp 43 trường đại học chuyển giao 1.236 sáng chế và thu 14 triệu USD tiền bản quyền vào năm 2003; tại Hoa Kỳ, TLO giúp tạo ra 2.279 doanh nghiệp khởi nghiệp thành công sau khi ban hành Luật Bayh-Dole.

Những khó khăn lớn nhất khi thương mại hóa công nghệ tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội là gì?
Khó khăn lớn nhất nằm ở cơ chế định giá tài sản trí tuệ công lập phức tạp, nguồn vốn ươm tạo công nghệ thử nghiệm (pilot) bị thiếu hụt và sự vắng bóng của tổ chức TLO chuyên trách đàm phán thị trường. Giảng viên còn nặng về nhiệm vụ giảng dạy và công bố bài báo, chưa được khuyến khích tương xứng khi hợp tác thương mại với doanh nghiệp.

Quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam bảo đảm quyền lợi tài chính cho tác giả sáng chế ra sao?
Theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ và các nghị định hướng dẫn, tập thể hoặc cá nhân tạo ra công nghệ được hưởng thù lao từ 20% đến 35% tổng số tiền thu được từ hợp đồng chuyển giao công nghệ, hoặc được hưởng tỷ lệ phần trăm trên doanh thu bán sản phẩm hình thành từ công nghệ đó trong thời hạn tối đa 10 năm.

Kết luận

Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn cốt lõi về hệ sinh thái thương mại hóa công nghệ đại học:

  • Khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch mô hình chính sách đổi mới sáng tạo từ cung tri thức sang định hướng cầu lấy doanh nghiệp làm trung tâm phát triển.
  • Nhận diện toàn diện các điểm nghẽn thể chế, tài chính và hạ tầng trung gian tại Việt Nam qua khảo sát thực chứng tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội giai đoạn 2000 - 2014.
  • Đúc kết bài học giá trị từ các đạo luật chuyển giao công nghệ và mô hình tổ chức TLO, mạng lưới Fraunhofer và Steinbeis tại Hoa Kỳ, Nhật Bản, CHLB Đức.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm chính sách khả thi bao gồm hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ, ưu đãi thuế khấu trừ R&D 150%, thành lập mạng lưới TLO đại học và xây dựng các phòng thí nghiệm hỗn hợp.
  • Cung cấp khung phương pháp luận và cơ sở dữ liệu tin cậy cho các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý khoa học trong giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã gắn kết chặt chẽ lý thuyết Hệ thống Đổi mới Quốc gia với thực tiễn chuyển giao công nghệ của giáo dục đại học Việt Nam. Trong các giai đoạn tiếp theo từ năm 2015 đến 2020, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất, xây dựng cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox) và đầu tư hoàn thiện mạng lưới văn phòng TLO tại các trường đại học kỹ thuật đầu ngành. Hãy chủ động kết nối ngay giữa doanh nghiệp và các nhà khoa học để biến tài sản trí tuệ Việt Nam thành năng lực cạnh tranh vượt trội trên thị trường toàn cầu.