mở đầu cho một giải pháp nào đó khác với các giải pháp đã và đang đƣợc triển khai, hay đổi mới là việc sử dụng các kiến thức mới nhằm cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới để đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, thị trƣờng. Trong cuốn từ điển Tiếng Việt, xuất bản năm 1996, thuật ngữ “đổi mới” đã xuất hiện và đƣợc hiểu là “Đổi mới là sự thay đổi cho khác hẳn trước, tiến bộ hơn để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển”. Trên thế giới, đổi mới cũng đã đƣợc nghiên cứu từ rất lâu bởi các nhà kinh tế học cổ điển nhƣ Marx, List, Veblen. Tuy nhiên, chỉ đến khi Joseph Schumpeter, nhà kinh tế ngƣời Áo, đƣa ra khái niệm về đổi mới vào năm 1934 thì tầm quan trọng của đổi mới mới đƣợc nhấn mạnh thực sự.
Schumpeter, đổi mới là “quá trình thương mại hóa những yếu tố mới hoặc sự kết hợp những yếu tố cũ trong các tổ chức công nghiệp, có liên quan tới vật liệu 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mới, quy trình mới, thị trường mới hoặc cơ cấu tổ chức mới, phần lớn được khởi xướng bởi người chủ doanh nghiệp”. Cũng theo đó, ông quan niệm rằng DN chính là động lực của hệ thống tƣ bản chủ nghĩa và quá trình đổi mới sẽ đƣợc xem nhƣ là một quá trình phá hủy nhƣng có tính sáng tạo. Phá hủy sáng tạo đƣợc hiểu là một quá trình mà qua đó các cấu trúc kinh tế cũ dƣờng nhƣ bị phá hủy và dựng lên một cấu trúc kinh tế mới. Theo Schumpeter, đổi mới không mang tính ngoại sinh mà đổi mới nằm ngay trong hệ thống kinh tế, nó là kết quả của sự cạnh tranh giữa các công ty nhằm thu đƣợc lợi nhuận độc quyền từ việc đổi mới.
Với mục đích thu lợi nhuận độc quyền nên các công ty hay DN liên tục tìm kiếm các cách tạo ra những sản phảm mới, quy trình sản xuất mới và dịch vụ mới để vƣợt đối thủ cạnh tranh và làm cho họ tụt hậu. Do vậy, qua lý thuyết của J. Schumpeter, thì đặc điểm quan trọng nhất của chủ nghĩa tƣ bản chính là sự cạnh tranh dựa trên sự đổi mới liên tục của các DN, chứ không phải sự cạnh tranh của các DN bằng giá cả theo lý thuyết kinh tế tân cổ điển. Theo quan điểm của Otto Lin, 1999, “Innovation” đƣợc coi nhƣ là một quá trình biến đổi hay chuyển đổi nguồn tri thức có đƣợc thông qua các hoạt động sáng chế, phát minh để trở thành của cải, trong khi đó sáng chế/phát minh là quá trình tiêu tốn các nguồn lực và tài nguyên.
Do vậy, vai trò của đổi mới và hoạt động phát minh/sáng chế là khác nhau. Tuy nhiên, không phải lúc nào sáng chế cũng đƣợc công nhận để cấp bằng và thƣờng rất ít khi tạo ra những sản phẩm/quy trình mới đƣợc thị trƣờng chấp nhận. Trong khi đó, đổi mới là khái niệm mô tả quá trình tạo ra sáng chế và các hoạt động thử nghiệm, sản xuất thử để từ chỗ chỉ là những ý tƣởng (ideas), bản vẽ thô ban đầu trở thành những sản phẩm và dịch vụ mới đƣợc thƣơng mại hóa và đƣợc thị trƣờng công nhận, chấp nhận. Do vậy, chức năng của “đổi mới” chính là hoạt động khai thác, sử dụng có hiệu quả các sáng chế thành các giá trị kinh tế, văn hóa và xã hội.
Hay hiểu theo một cách khác, hoạt động khoa học (phát minh) và công nghệ (sáng chế) là dùng tiền của, tài 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên để tạo ra tri thức mới trong khi “innovation” là hoạt động sử dụng tri thức để làm ra tiền của hay nói theo một cách khác, đổi mới chính là biến tri thức thành tiền. Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đổi mới còn đƣợc hiểu là: “Đổi mới là một quá trình lặp khởi đầu bằng sự nhận ra được thị trường mới và/hoặc cơ hội dịch vụ mới cho một sáng chế dựa trên công nghệ dẫn đến sự triển khai sản xuất và các nhiệm vụ tiếp thị và các yếu tố này phải nỗ lực hết sức cho thành công thương mại của sáng chế đó” [OECD, 1991]. Với định nghĩa này thì khái niệm đổi mới của OECD đã bao trùm lên cả hai khía cạnh trung tâm của đổi mới. Một là, đổi mới là cả một quá trình bắt đầu từ sáng chế qua triển khai sản xuất thử nghiệm, sản xuất thử loạt seri 0 và đƣa ra thị trƣờng để thƣơng mại hóa các sản phẩm và cuối cùng là thƣơng mại hóa thành công, đƣợc thị trƣờng chấp nhận.
Hai là, đổi mới bao gồm cả việc lần đầu tiên đề xuất ý tƣởng mới và thậm chí cả những cải tiền về sau. Do vậy, có thể hiểu là, đổi mới là quá trình biến đổi một ý tƣởng thành một sản phẩm mới, dịch vụ mới hay thậm chí cả một quy trình sản xuất mới hoặc cải tiến sản phẩm hiện có để đƣa ra thị trƣờng, hay cải tiến hình thành một quy trình vận hành mới hoặc quy trình đƣợc cải tiến và sử dụng trong công nghiệp và thƣơng mại, cũng có khi hình thành cả một dịch vụ xã hội mới. Theo Nelson, 1993, “Innovation” - Đổi mới là quá trình “chuyển ý tưởng thành sản phẩm mới hoặc sản phẩm hoàn thiện đưa ra trên thị trường, thành quy trình đưa vào hoạt động hoặc hoàn thiện trong công nghiệp và thương mại, hoặc đưa ra cách tiếp cận mới về dịch vụ xã hội”. Do vậy, đổi mới - “Innovation” có thể hiểu là nó vừa chứa đựng các yếu tố khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, sản xuất và kinh doanh, đồng thời lại vừa thể hiện các khía cạnh về mặt tổ chức, văn hóa và xã hội ở nhiều phạm vi khác nhau nhƣ ngành, vùng, công ty, quốc gia và quốc tế.
Đổi mới cũng có thể còn đƣợc xem nhƣ là việc sáng tạo ra một cái gì đó mới trong những điều kiện 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất định và đó không phải là hiện thực chỉ xảy ra tại các nƣớc phát triển mà còn là hiện thực ở ngay cả những quốc gia chậm phát triển nhất. Tóm lại, hiện đã có nhiều cách hiểu hay những khái niệm khác nhau về đổi mới. Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn, tác giả đã khái quát khái niệm về đổi mới nhƣ sau, đổi mới là quá trình biến các ý tưởng thành các sản phẩm mới, dịch vụ mới hay quy trình sản xuất mới và sau đó được thị trường chấp nhận, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Do đó, cốt lõi của đổi mới có thể đƣợc hiểu là, muốn có đổi mới thì điều kiện cần và đủ là phải có ý tƣởng mới và tri thức để khai thác thành công ý tƣởng đó.
Hay nói theo một cách khác đổi mới chính là tri thức đƣợc thƣơng mại hóa thành công. Những vấn đề đặt ra cho đổi mới Đối với một Quốc gia, DN hay tổ chức thì đổi mới để tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia, DN hoặc tổ chức đó. Thông thƣờng, để tăng sức cạnh tranh của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm mục đích thu nhiều lợi nhuận hơn, các DN thƣờng đƣa ra mức giá thấp hơn hoặc buộc phải tạo ra sự khác biệt cho sản phầm và dịch vụ của mình. Do đó, đổi mới sản phẩm và dịch vụ là nhằm tạo ra giá trị mới cho sản phẩm hay dịch vụ đó hoặc tạo ra một thị trƣờng mới cho sản phẩm và dịch vụ của DN, tổ chức.
Nhờ việc tăng sức cạnh tranh này mà DN sẽ thu đƣợc nguồn lợi nhuận nhờ giá thành thấp nhất hay có sản phẩm độc đáo nhất. Mặt khác, đối với nền kinh tế của một Quốc gia, trong hoạt động kinh doanh buôn bán luôn luôn xuất hiện các sản phẩm thay thế mà các sản phẩm này thƣờng có các tính năng, tác dụng tƣơng đƣơng, có khi chất lƣợng thậm chí còn tốt hơn, có nhiều đặc điểm nổi bật và hình thức hấp dẫn hơn cả các sản phẩm hiện đang có trên thị trƣờng. Do vậy, sản phẩm thay thế đó sẽ thu hút đƣợc nhiều khách hàng mua hơn các sản phẩm hiện có trên thị trƣờng. Tại thời điểm đó, nếu công ty không tiến hành đổi mới sẽ rơi vào tình trạng không tiêu thụ đƣợc các sản phẩm của mình, hoạt động kinh doanh bị trì 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trệ và nếu tiếp tục kéo dài tình trạng này, công ty có thể đứng trên bờ vực phá sản.
Vì vậy, công ty buộc phải đổi mới nếu muốn tồn tại và phát triển đƣợc trên thị trƣờng đầy sức cạnh tranh đó. Mặt khác, trình độ con ngƣời ngày càng phát triển, nhu cầu đối với những mặt hàng tốt, mới, lạ, đa năng, tiện lợi, an toàn và bảo đảm ngày một cao, đặc biệt ở các nƣớc phát triển Châu Âu nhƣ Đức, Pháp, Bỉ hay Phần Lan…. Hơn nữa, đổi mới để tăng khả năng cạnh tranh không chỉ của chính các DN, Công ty mà còn của cả Quốc gia đó. Đổi mới sản phẩm và dịch vụ sẽ tạo ra giá trị mới cho sản phẩm và dịch vụ, đồng thời tạo ra thị trƣờng mới cho sản phẩm.
Từ đó, DN thu đƣợc lợi nhuận, nền kinh tế phát triển, đời sống con ngƣời đƣợc cải thiện, nâng cao. Do vậy, đổi mới là tất yếu. Cấu trúc của hệ thống đổi mới quốc gia 1. Khái niệm về hệ thống Theo Wikipedia, hệ thống đƣợc hiểu là tập hợp các phần tử có quan hệ hữu cơ với nhau, có tác động chi phối lẫn nhau theo các quy luật nhất định để trở thành một chỉnh thể.
Theo lý thuyết hệ thống, hệ thống là tập hợp các phần tử có liên hệ tƣơng tác trong một môi trƣờng xác định nhằm thực hiện một mục tiêu (hoặc một số mục tiêu) định trƣớc [Vũ Cao Đàm, Bài giảng Lý thuyết hệ thống]. Theo Lundvall, ông cho rằng hệ thống đƣợc xem nhƣ là một định nghĩa rất rộng, với sự tích hợp của nhiều yếu tố cần thiết để lý giải sự khác biệt trong hoạt động đổi mới công nghệ của các quốc gia: “Định nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các bộ phận và khía cạnh của cơ cấu kinh tế và cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng tới sự học hỏi cũng như tìm kiếm và thăm dò - những hệ thống như hệ thống sản xuất, tiếp thị, tài chính, bản thân chúng là những bộ phận có rất nhiều điều cần phải học hỏi. Định nghĩa về hệ thống đổi mới phải luôn luôn mở và linh hoạt để kết hợp tất cả những bộ phận và quá trình có liên quan”. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.