phần mở đầu, kết luận, các danh mục, luận văn sẽ được chia thành 3 chương: - Chương l1. Cơ sở lý luận về chính sách dao tạo lại nhân lực đáp ứng yêu cầu đối mới công nghệ trong các doanh nghiệp dệt - may; - Chương 2. Thực trạng chính sách đào tạo lại nhân lực trong các doanh nghiệp dệt - may tại tỉnh Hòa Bình; - Chương 3. Nội dung chính sách và lộ trình dao tạo lại nhân lực đáp ứng yêu cầu đôi mới công nghệ trong các doanh nghiệp dệt - may.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO LAI NHÂN LUC ĐÁP UNG YÊU CAU DOI MỚI CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DET - MAY 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khai niệm chính sách Có nhiều cách tiếp cận dé phân tích khái niệm chính sách. Trước hết, từ tiếp cận chính sách công, ví dụ trong tác phẩm Định nghĩa về phân tích chính sách đã nêu: “Chính sách công được hiểu là nguyên tắc hướng dẫn hành động của nhánh hành pháp trong tổ chức nhà nước để giải quyết các vấn dé một cách phù hợp với các thiết chế pháp luật” [Wolf R.
Cách hiểu này về chính sách công đã coi chính sách công phải gắn với hoạt động của nhà nước, mà cụ thể gắn với hoạt động của nhánh hành pháp trong tô chức nhà nước. Như đã biết, tổ chức nhà nước hiện đại chia thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, bởi vậy có thé nhận định quan điểm của Wolf Robert về chính sách công không bao gồm các văn bản pháp luật (là sản phẩm của nhánh lập pháp, ví dụ luật của Quốc hội), hay nói cách khác Wolf Robert quan niệm chính sách công là những văn bản của Chính phủ nhằm cụ thể hóa chính sách của Quốc hội. Các học giả khác, ví dụ trong tác phẩm Dinh nghĩa vẻ chính sách công va pháp luật lại nêu: “Chính sách công được hiểu là hệ thống các biện pháp hành động, biện pháp quản lý, bằng pháp luật nhằm ưu tiên giải quyết một chủ dé nhất định do một cơ quan chính phủ hoặc đại điện cua ho tiễn hành ”. 11 Cách định nghĩa này gần tương tự với cách định nghĩa của Guy Peters: “Chính sách công là toàn bộ hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của công dan”.
Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn, không chỉ cho lĩnh vực chính sách công: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thé theo đuổi, để giải quyết những van dé mà ho quan tâm”. Như vậy, theo quan niệm của Guy Peters thì chính sách công phải liên quan đến nhà nước, còn quan niệm của James E. Anderson thì quá trình hoạch định chính sách thì ngoài nhà nước còn liên quan đến các chủ thê khác trong xã hội. Cách tiếp cận chính sách gắn với chủ thể ban hành chính sách là chính phủ hoặc một đảng phái, chính sách gắn với pháp luật, ví dụ: - “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà dé ra.
Hoặc Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội. Theo Vũ Cao Đàm (2011), trong các loại chính sách chung lại có các chính sách đối với từng lĩnh vực, ví dụ: trong chính sách kinh tế có các chính sách mậu dịch tự do, chính sách bảo hộ thuế quan, chính sách tài chính. Trong chính sách tiền tệ có chính sách thị trường tự do, trong chính sách xã hội có chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách quản lý tài nguyên quốc gia. Tóm lại, có nhiều loại chính sách khác nhau, có chính sách chung, chính sách cụ thé tùy thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Chính sách được thực thi khi được thé chế hóa băng pháp luật. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng các dao luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản đưới luật, như nghị định của chính phủ; thông 12 tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tô chức (doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức xã hội.); - Chính sách tac động khác nhau vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội khác nhau. Tùy thuộc vai trò khác nhau trong việc thực hiện mục tiêu chính sách. Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu; - Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên VàO một mục tiêu cụ thé của hệ thống xã hội.
Chăng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đảo tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu quan lý tài nguyên quốc gia. Tổng hợp từ tất cả các cách tiếp cận trên, Luận văn sử dụng định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thé chế hóa, mà chủ thể quyên lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi đối với một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên đó trong chiến lược phát triển cua một hệ thong xã hội”. Khai niệm chu trình chính sách Một trong những phương tiện phổ biến nhất để đơn giản hóa việc ban hành chính sách công là chia tách quá trình chính sách thành các giai đoạn riêng biệt và các tiểu giai đoạn — chuỗi các giai đoạn kế tiếp liên quan với nhau được gọi là “chu trình chính sách”. Chu trình chính sách trong tiếng Anh là Policy Process.
Theo đó Chu trình chính sách (Policy Process) (hay qui trình chính sách) được hiểu là quá trình luân chuyền các giai đoạn từ khởi sự cho một chính sách bat ky đến đến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội của con người hiện nay [Nguyễn Thị Như Mai, 2012]. 13 Các giai đoạn trong chu trình chính sách: Hiện nay để thực hiện chu trình chính sách phải được tiễn hành qua bốn giai đoạn từ khởi sự chính sách, hoạch định chính sách, thực thi chính sách; phân tích, đánh giá chính sách. Nội dung của các giai đoạn này cụ thé như sau: - Giải đoạn 1: Khởi sự chính sách Bao gồm các hoạt động xác định vấn đề chính sách và đưa vấn đề đó vào chương trình ban hành văn bản quản lý. Hoạt động xác định vấn đề chính sách không chỉ do các cơ quan nhà nước thực hiện mà vẫn có sự tham gia rộng rãi của xã hội, đặc biệt là các tô chức chính trị — xã hội như mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên của mặt trận.
- Giai đoạn 2: Hoạch định chính sách Đây là giai đoạn xây dựng chính sách và ra quyết định chính sách, xác định các giải pháp dé dat được mục tiêu đó, phân tích tác động của từng giải pháp và so sánh các giải pháp với nhau. Các chính sách được nghiên cứu dé đề xuất nhà nước phê chuẩn và ban hành công khai. Quá trình đề xuất chính sách bao gồm việc xác định vấn đề cần ra chính sách, xác định mục tiêu mà chính sách cần đạt được và xác định các giải pháp cần thiết để đạt được tới mục tiêu đó. - Giai đoạn 3: Tổ chức thực thi chính sách Giai đoạn này bao gồm các hoạt động triển khai, phối hợp thực hiện kiểm tra, đôn đốc và hiệu chỉnh chính sách cùng các biện pháp tổ chức thực thi dé chính sách phát huy tác dụng trong cuộc sống.
Giai đoạn này có ý nghĩa quyết định đến sự thành bài của một chính sách. - Giai đoạn 4: Phân tích, đánh giá chính sách. Trong giai đoạn này, người ta tiến hành so sánh các kết quả của chính sách công với các mục tiêu đề ra, phân tích hiệu quả kinh tế — xã hội đạt được thông qua việc thực thi chính sách trên thực tế. Thực thi chính sách công Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tô chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công [Lê Nhu Thanh, Lê Văn Hòa, 2016].
Thực thi chính sách công là giai đoạn quan trọng trong quá trình chính sách, là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách công. Quy trình triển khai thực thi chính sách công được chia thành 3 giai đoạn co bản: (1) Xây dựng và ban hành văn bản chỉ đạo thực thi chính sách công; (2) Tổ chức thực hiện và sơ kết, (3) Tổng kết thực hiện chương trình, dự án thực thi chính sách công. Các giai đoạn đó được chia thành 7 bước: xây dựng kế hoạch; phổ biến quy chế, tuyên truyền chính sách; phân công phối hợp thực hiện chính sách; duy trì chính sách; điều chỉnh chính sách; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách; tong kết đánh giá rút kinh nghiệm. Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ Có nhiều định nghĩa về công nghệ, có thể dẫn chứng: - Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phâm mới; - Công nghệ là cách thức mà qua đó các nguồn lực được chuyền thành hang hóa; - Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc về các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu cần thiết, cấu kiện và các sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh.
Tổng hộ từ những quan niệm trên, trong luận văn này công nghệ được hiểu là tập hợp các nguồn lực bao gôm kiến thức, quy trình/phương pháp, thiết bi, thông tin, bí quyết và kỹ năng của con người, biện pháp tổ chức dé áp dụng vào quá trình sản xudt/kinh doanh dé tạo ra sản phẩm dệt — may phục vụ yêu cầu của thị trường. 15 Về đôi mới công nghệ, theo Oslo Manual 2018 đổi mới công nghệ bao gồm đổi mới 6 hoạt động liên quan là: 1. Sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ; 2. Phân phối và hậu cần; 3.
Tiếp thị và bán hang; 4. Hệ thống thông tin và truyền thông; 5. Sự điều hành và quản lý; 6. Phát triển quy trình sản phâm và kinh doanh.