Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cán bộ và công chức a. Khái niệm cán bộ Trong thời kỳ nước ta kháng chiến chống Pháp thì thuật ngữ “cán bộ” xuất hiện.
Có nhiều cách hiểu về cán bộ có thể nói đến như sau: “Cán bộ là khái niệm dung để nói đến những người có vai trò giữ chức vụ và cương vị nòng cốt trong một tổ chức và tác động của họ sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, điều hành, quản lý, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức” [30,tr8] “Cán bộ là người phổ biến chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng nắm rõ, hiểu rõ và thi hành. Đồng thời cũng đem tình hình, tình trạng của nhân dân báo cáo lại cho Đảng, cho Chính phủ nắm rõ để đề ra chính sách đúng. Vì vậy cái gốc của mọi việc là cán bộ”[ 30,tr8] Theo điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008, “Cán bộ được hiểu là công dân Việt Nam, được phê chuẩn và bầu cử, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo từng nhiệm kỳ trong các cơ quan thuộc Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (có thể gọi chung là cấp tỉnh), ở thành phố, quận, huyện, thị xã, thị trấn thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp thành phố), trong biên chế và hưởng lương thưởng từ ngân sách nhà nước” [30, Điều 4] Nói tóm lại, có thể hiểu thuật ngữ “cán bộ” dùng để chỉ những người giữ chức danh điều động, bổ nhiệm, bầu cử để làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội và hưởng lương thưởng từ ngân sách nhà nước, phải chịu sự điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức. Khái niệm công chức Vào nửa cuối thế kỷ XIX, “công chức được định nghĩa là những công dân được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ một công vụ liên tục trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hoặc nước ngoài, đã được xếp vào một ngạch và lương được hưởng từ ngân sách nhà nước”[30,tr9].
Luật cán bộ, công chức năm 2008 có quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào danh ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp thành phố; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan hay quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và lương thưởng chế độ được hưởng từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[30,Điều 4]. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định Tại khoản 3, Điều 4: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (được gọi chung là cán bộ cấp xã), là công dân Việt Nam, có quyền bầu đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư Đảng uỷ những người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” [30, Điều 4]. “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được quyền tuyển dụng và giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ trực thuộc Uỷ ban nhân dân xã, trong biên chế và hưởng chế độ lương trong ngân sách nhà nước”[30,Điều 4]. Các chức danh cán bộ, công chức cấp xã Ngày 22 tháng 10 năm 2009 tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính Phủ về số lượng chính sách chức danh dành cho cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã - Cán bộ cấp xã gồm các chức vụ sau: + Phó bí thư, Bí thư Đảng uỷ: Trên địa bàn phường, xã, thị trấn, là cán bộ có nhiệm vụ phụ trách công tác Đảng ở Đảng bộ, chi bộ (nơi chưa thành lập Đảng bộ) xã, phường, thị trấn, giữ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động thực hiện nhiệm vụ khả năng của đảng bộ, chi bộ, cùng tập thể đảng uỷ, chi uỷ lãnh đạo toàn bộ mọi mặt đối với hệ thống chính trị ở cơ sở đối với việc thực hiện đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và pháp luật Nhà nước.
+ Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân: Gọi là cán bộ chuyên phụ trách cho việc chịu trách nhiệm chỉ đạo thực hiện các năng lực , nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp xã, đồng thời phải bảo đảm phát triển chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường, xã, thị trấn. + Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân: được gọi là cán bộ chuyên phụ trách chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, vận hành hoạt động của Uỷ ban nhân dân và hoạt động quản lý Nhà nước. + Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội nông dân Việt Nam: Là chuyên trách cán bộ đứng đầu Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã, phường, thị trấn. Họ sẽ có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, chức năng theo quy định điều lệ của tổ chức đoàn thể, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Các chức danh công chức cấp xã gồm: + Trưởng công an; + Chỉ huy trưởng quân sự; 12 + Văn phòng – thống kê; + Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường ở thị trấn, phường + Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường ở xã; + Tài chính - kế toán; + Tư pháp – hộ tịch; + Văn hoá – xã hội. Công chức có nhiệm vụ: thực hiện triển khai các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã chỉ đạo và các công tác chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã; có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác. Tiêu chuẩn chức danh cán bộ, công chức cấp xã Ngày 16 tháng 01 năm 2004 Theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ đã quy định về tiêu chuẩn công chức, cán bộ các cấp xã như sau: * Tiêu chuẩn chung - Luôn có mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và tinh thần yêu nước kiên định sâu sắc; phải có năng lực tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng đạt hiệu quả và kết quả tốt, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương - Cần kiệm liêm chính, công tâm thạo việc chí công vô tư, tận tuỵ với dân. Không tham nhũng và phải luôn luôn giữ vững tinh thần kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng.
Ý thức kỷ luật trong công tác phải luôn luôn đề cao. - Trung thực được nhân dân tín nhiệm, Không để xảy ra tình trạng cơ hội, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. - Phải có trình độ, vốn hiểu biết về các mặt lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đi cùng với đó là phải có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực, sức khoẻ để làm việc đạt hiệu quả và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. 13 * Tiêu chuẩn cụ thể - Trình độ chuyên môn + Đối với các chức danh Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ xã: cần phải đạt trình độ ở cấp trung cấp chuyên môn trở lên đối với khu vực đồng bằng.
Bồi dưỡng kiến thức chuyên môn đối với khu vực miền núi (tương ứng với trình độ sơ cấp trở lên). Nếu muốn tham gia giữ chức vụ lần đầu thì cần có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. + Đối với các chức danh Phó chủ tịch, Chủ tịch HĐND xã: Cần phải đạt trình độ trung cấp chuyên môn trở lên đối với khu vực đồng bằng. Đặc điểm kinh tế - xã hội phải thích ứng, phù hợp với ngành chuyên môn của từng loại hình đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.
Cán bộ phải được đào tạo qua lớp bồi dưỡng quản lý hành chính Nhà nước, nghiệp vụ quản lý kinh tế, kỹ năng và kiến thức hoạt động đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã. + Đối với các chức danh Phó chủ tịch, Chủ tịch UBND xã: Tại khu vực đồng bằng, cần có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Kiến thức chuyên môn ở khu vực miền núi (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu có giữ chức vụ lần đầu thì trình độ phải ở mức trung cấp chuyên môn trở lên. Ngành chuyên môn phải đáp ứng tất cả đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính phường, xã, thị trấn.
Và đã trải qua bồi dưỡng, đào tạo về nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế. + Đối với các chức danh Chủ tịch MTTQ và trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội cấp xã: Yêu cầu phải tương đương trình độ sơ cấp trở lên và đã trải đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn các lĩnh vực công tác mà cán bộ đang giữ vị trí làm việc. + Đối với chức danh công chức xã: Yêu cầu có trình độ Trung cấp chuyên môn tương ứng với vị trí đang đảm nhiệm - Trình độ lý luận: + Đối với các chức danh Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐNĐ, UBND: Trung cấp lý luận trở lên 14 + Đối với Chủ tịch MTTQ và trưởng các đoàn thể chính trị -xã hội: Sơ cấp lý luận trở lên + Đối với các chức danh công chức: Sơ cấp lý luận. Riêng đối với Trưởng công an và Xã đội trưởng phải đạt trình độ Trung cấp lý luận Cơ sở pháp lý quan trọng để đảm bảo các cơ quan hoạch định chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ban hành chính sách đào tạo, bồi dưỡng là trình độ lý luận họ đang có.