Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC 1. Một số khái niệm, nguyên tắc xây dựng và nội dung của chính sách dân tộc 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm dân tộc Theo Từ điển tiếng Việt: “Dân tộc là cộng đồng người ổn định làm thành Nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung” [32; tr.
Theo định nghĩa của từ điển bách khoa toàn thư wikipedia: dân tộc theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân [13]. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Giáo trình cao cấp lý luận chính trị, Nxb Lý luận Chính trị (2020); dân tộc hay quốc gia - dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được hình thành ổn định và lâu dài trong lịch sử, chịu sự chỉ đạo bởi một nhà nước trong một quốc gia như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Anh; dân tộc Đức.
Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, các cộng đồng tộc người cùng sống trên một địa bàn lãnh thổ, do nhu cầu tồn tại và phát triển, có mối quan hệ với nhau đã đi tới thành lập các quốc gia - dân tộc bao gồm địa bàn sinh sống của một hay nhiều cộng đồng tộc người. Ở phương Tây, quá trình này gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sự hướng tới thành lập các quốc gia - dân tộc độc lập. Dân tộc được hiểu theo nghĩa quốc gia bao gồm những đặc trưng chủ yếu sau: 9 Chịu sự quản lý của một nhà nước, nhà nước - dân tộc đó phải là nhà nước độc lập. Có lãnh thổ chung ổn định, là địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc.
Vận mệnh dân tộc - một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ; có chung phương thức sinh hoạt kinh tế, là liên kết tự nhiên, chặt chẽ, bền vững của cộng đồng dân tộc; có ngôn ngữ chung, làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, tình cảm.; có chung một nền văn hóa, thể hiện qua tâm lý, tính cách, phong tục, tập quán. tạo nên bản sắc riêng của cộng đồng dân tộc [11; tr. Khái niệm dân tộc - tộc người, dân tộc là cộng đồng mang tính tộc người (ví dụ, dân tộc Tày, Thái, Mường, Bana), là cộng đồng hình thành lâu dài trong lịch sử, có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc sinh sống ở nhiều quốc gia - dân tộc khác nhau được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc người. Ở Việt Nam từ năm 1979 đến nay, khi điều tra về thành phần các dân tộc đều dựa vào ba đặc trưng nêu trên để xác định các tộc danh.
Qua đó, đã xác định Việt Nam có 54 dân tộc, đoàn kết cùng sinh sống trên lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Việc nâng cao nhận thức về khái niệm dân tộc nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc. Nắm vững những đặc trưng của dân tộc để tránh những hạn chế của việc ra chính sách trung tính, chính sách chung chung không có con người, vùng, miền cụ thể. Chính sách phù hợp sẽ góp phần củng cố, tăng cường sự thống nhất quốc gia trên nền tảng kinh tế, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền; củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Đồng thời, nắm vững đặc điểm dân tộc để ban hành và thực hiện những chính sách phù hợp, mang tính đặc thù cho từng dân tộc, tạo điều kiện cho từng dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số, phát triển gắn với sự phát triển 10 chung của cả cộng đồng. Như vậy, khái niệm dân tộc được hiểu theo 2 nghĩa, theo nghĩa là cộng đồng tộc người, được phân biệt bởi đặc trưng về sự bền vững và chặt chẽ về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người. Nghĩa thứ hai, dân tộc với nghĩa quốc gia dân tộc, là cộng đồng chính trị - xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lý thống nhất bởi một nhà nước. Trong khuôn khổ của luận văn này, dân tộc được hiểu theo nghĩa là cộng đồng tộc người.
Khái niệm chính sách dân tộc Chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam là một bộ phận quan hệ hữu cơ với công tác dân tộc, được quy định bởi quan điểm về vấn đề dân tộc, xử lý vấn đề dân tộc và cách thức thực hiện công tác dân tộc. Hiện nay, khái niệm chính sách dân tộc được luận giải phong phú: Dưới góc độ chính trị - xã hội, chính sách dân tộc là tổng hợp những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước được đề ra tác động trực tiếp đến các dân tộc và quan hệ dân tộc. Chính sách dân tộc mang bản chất giai cấp của Nhà nước trong phạm vi đối nội và đối ngoại. Dưới góc độ quản lý nhà nước, chính sách dân tộc là hệ thống những quyết sách của Đảng, Nhà nước được thực thi thông qua bộ máy hành pháp để quản lý và phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đối với các dân tộc và vùng đồng bào dân tộc nhằm thiết lập sự bình đẳng và hòa nhập phát triển, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Chính sách dân tộc cũng là chính sách phát triển nhằm thiết lập nên những thành tựu phát triển về kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc và vùng dân tộc, hướng tới đạt mục tiêu cao nhất là sự bình đẳng về mọi mặt, đặc biệt 11 về mặt chính trị, kinh tế và văn hóa giữa các vùng và các dân tộc ở Việt Nam. Khái niệm thực hiện chính sách dân tộc Thực hiện chính sách dân tộc là việc đưa pháp luật, chính sách vào cuộc sống, trên cơ sở cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, từ khâu hướng dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các điều kiện nguồn lực tài chính, nhân lực cần thiết bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu, tiến bộ yêu cầu quy định trong chính sách. Trước khi triển khai phạm vi rộng, đối với một số chính sách có thể làm thí điểm. Do đặc điểm tự nhiên và dân cư, tổ chức thực hiện chính sách ở vùng dân tộc, miền núi có nhiều khác biệt với khu vực nông thôn đồng bằng; những yếu tố về thời gian, môi trường sống và phong tục, tập quán cũng không giống nhau nên cách thức thông tin chính sách, nguồn lực cần được chú ý.
Các khu vực dân cư khác nhau có những cách tiếp cận khác nhau, cần được cụ thể hóa trong những kế hoạch đầy đủ, phù hợp. Trong thực hiện chính sách, đánh giá chính sách là một nội dung quan trọng nhằm xác định hiệu lực, kết quả, hiệu quả của chính sách, so sánh, đối chiếu với những mục tiêu đặt ra, là cơ sở để xem xét, đánh giá chính sách có phù hợp hay không, cần điều chỉnh hay bãi bỏ. Đánh giá chính sách đòi hỏi phải thực hiện ở tất cả các khâu, giai đoạn, theo sát tiến trình vận động của chính sách. Đây là một quá trình liên tục, tương thích với sự vận động của chu trình chính sách.
Đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ là hai hoạt động có tính bắt buộc nhằm tăng hiệu quả giám sát hoạt động chính sách cũng như để chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo. Thực hiện chính sách dân tộc, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một bộ phận hữu cơ trong hệ thống chính sách quốc gia, không thể tách rời với sự phát triển chung của đất nước, nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia cả về khía cạnh chính trị, kinh tế và xã hội, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; thể hiện tình cảm, trách nhiệm của cả nước đối với 12 những đóng góp của đồng bào dân tộc trong sự nghiệp cách mạng giành và giữ nền độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nguyên tắc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc Bình đẳng giữa các dân tộc, tất cả các dân tộc, dù đông người hay ít người, đều có tư cách chính trị - xã hội - pháp lý như nhau trong các quan hệ tộc người, trong quyền hạn và nghĩa vụ đối với đất nước. Như vậy, nội dung của bình đẳng dân tộc, với tư cách là quyền, phải được thể hiện trong mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.
Đoàn kết giữa các dân tộc, là sự đoàn kết trong nội bộ của từng dân tộc thiểu số; giữa dân tộc thiểu số và dân tộc đa số; giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc trên thế giới vì hòa bình và tiến bộ xã hội. Đoàn kết dân tộc là chiến lược của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, cần hạn chế những tác động làm tổn hại đến sự đoàn kết như: các biểu hiện của tư tưởng dân tộc lớn, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tự ti mặc cảm dân tộc, cục bộ bản vị, vị kỷ dân tộc, dân tộc cực đoan. Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, là phương châm, nguyên tắc quan trọng trong xử lý mối quan hệ giữa các dân tộc với nhau, mối quan hệ giữa nhà nước với các dân tộc.
Đó không đơn thuần là các quan hệ về kinh tế, văn hóa, xã hội mà biểu hiện cao nhất là quan hệ về chính trị. Ngoài thực hiện các quyền bình đẳng chung thì giải quyết vấn đề lợi ích trên mọi mặt của đời sống xã hội, giải quyết những vướng mắc trong tâm lý của các cộng đồng dân tộc, các nhóm dân tộc cần được chú trọng.