Chương 1 Thực hiện chính sách cán bộ đối với cán bộ xã ở thành phố Hà Nội - Lý luận và thực tiễn 1. Cán bộ xã và chính sách cán bộ đối với cán bộ xã ở thành phố Hà Nội 1. Xã và cán bộ xã ở thành phố Hà Nội 1. Xã ở thành phố Hà Nội Hà Nội- Thủ đô của cả nước, nằm ở phía Tây Bắc của vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, từ 20o53’ đến 21o23’ độ vĩ Bắc và 105o44’ đến 106o02 độ kinh Đông; Phía Bắc giáp các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc; Phía Nam giáp Hà Nam, Hòa Bình; Phía Đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; Phía Tây giáp Hòa Bình, Phú Thọ.
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển. Địa hình, địa thế của Hà Nội hiện nay rất đa dạng, có đồng bằng chiếm phần lớn diện tích toàn Thành phố, Ba phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác, có dải bán sơn địa ở phía Tây - Tây Bắc với hàng nghìn ha, có tiềm năng lớn trong trồng cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc. Phần lớn diện tích đồi núi thuộc các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Mỹ Đức, Quốc Oai. Với vị trí địa lý có nhiều sông cổ chảy qua, như: Sông Đà, sông Hồng, sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu.
Những con sông này xưa kia là huyết mạch giao thông chính, đầy ắp những truyền thuyết dựng làng giữ nước của dân tộc; phía Đông Thành phố, đối diện thuộc phía tả ngạn sông Hồng là tỉnh Hưng Yên; phía Bắc, qua sông Hồng và sông Đà là tỉnh trung du Vĩnh Phúc; phía Tây tiếp giáp với tỉnh miền núi Hòa Bình, phía nam là tỉnh Hà Nam. Ngoài ra, Hà Nội còn có nhiều tuyến giao thông chiến lược chạy qua, như: quốc 10 lộ 1A, 6, 11, 21, 22, 73. Với vị trí địa lý như vậy, nên Hà Nội có vị trí rất quan trọng và thuận lợi về nhiều mặt ở đồng bằng Bắc Bộ, trước hết là vị trí chính trị và vị trí chiến lược về quân sự, một trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa - xã hội của cả nước; là cầu nối Hà Nội với nhiều miền của đất nước và là bản lề giữa đồng bằng với miền núi, nối các tỉnh đồng bằng phía nam hữu ngạn sông Hồng với Việt Bắc, Tây Bắc. Theo Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12, ngày 29 tháng 5 năm 2008 của kỳ họp thứ 3, Quốc Hội khóa XII về việc mở rộng địa giới hành chính Thủ đô.
Hiện nay, Thành phố Hà Nội bao gồm 10 huyện, 18 huyện và 1 thị xã. Hà Nội có 577 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó 401 đơn vị cơ sở xã, 157 phường và 22 thị trấn, với diện tích 334.470,02 ha và dân số trên 6.000 người, mật độ dân cư trung bình 1875 người/km2 (đại bộ phận là người Kinh, chỉ có một số ít người dân tộc Mường, dân tộc Dao, Tày, Nùng, sán dìu. Xã là đơn vị hành chớnh lónh thổ cấp cơ sở có đầy đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị, cú cỏc tổ chức kinh tế, cỏc tổ chức xó hội, nghề nghiệp. Góp phần làm nên vị trí và tầm vóc của Thủ đô, với quy mô 401 đơn vị, các xã thuộc ngoại thành Hà Nội cú vai trũ to lớn.
Đây là vùng đệm bảo đảm sự cân bằng giữa khu vực nội thành và các địa phương lân cận. Các xã thuộc ngoại thành Hà Nội là không chỉ là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm và là nơi tiêu thụ hàng hóa quan trọng cho khu vực nội thành mà còn là nguồn cung cấp lao động, nguyên liệu, không gian phát triển cho Thủ đô trước mắt và lâu dài. Các liên kết giữa nông thôn ngoại thành và nội thị thủ đô ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp. Nhiều khu vực nông thôn ngoại thành của Hà Nội có những chuyển dịch rất mạnh trong cơ cấu kinh tế, lao động; có bước phát triển mạnh trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, cũng như trong phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho mục tiêu phát triển Thủ đô.
11 Với cơ cấu như hiện nay, tỷ lệ xã của Hà Nội chiếm tới 2/3 trong tổng số đơn vị cơ sở cấp xã. Do đó, xã ở Hà Nội có vai trò to lớn trong nội dung các chính sách phát triển của Thủ đô thời gian tới. Cán bộ xã ở thành phố Hà Nội * Quan niệm về cán bộ xã ở thành phố Hà Nội Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX đã xác định: Hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách. Thứ nhất: Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao động làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm: Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử gồm: cán bộ chủ chốt của cấp ủy đảng, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, những người đứng đầu ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Cán bộ chuyên môn được ủy ban nhân dân tuyển chọn gồm: công an trưởng, xã đội trưởng, cán bộ văn phòng, địa chính, tài chính- kế toán, tư pháp, văn hóa-xã hội. Số lượng cán bộ chuyên trách do Chính phủ quy định. Cán bộ chuyên trách ở cơ sở có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước; khi không còn là cán bộ chuyên trách mà chưa đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí, được tiếp tục tự đóng bảo hiểm xã hội hoặc hưởng trợ cấp một lần theo chế độ nghỉ việc. Cán bộ, công chức ở cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào ngạch công chức ở cấp trên.
Theo Khoản 1, Điều 1 của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ công chức ngày 29/04/2003, thì cán bộ cấp xã gồm cán bộ xã và công chức xã: Cán bộ xã là những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã. 12 Công chức cấp xã là những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức 1998 và Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày21/10/2003 của Chính Phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn cũng quy định rõ cán bộ, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: - Cán bộ chuyên trách cấp xã bao gồm: + Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Thường trực Đảng ủy cấp xã (nơi không có Phó Bí thư chuyên trách công tác đảng); Bí thư, Phó bí thư chi bộ xã (nơi chưa thành lập Đảng ủy cấp xã); + Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân; + Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc; + Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, + Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, + Chủ tịch Hội Nông dân và Chủ tịch Hội Cựu chiến binh. - Công chức cấp xã bao gồm: + Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); + Chỉ huy trưởng quân sự; + Văn phòng - Thống kê; + Địa chính - Xây dựng; + Tài chính - Kế toán; + Tư pháp - Hộ tịch; 13 + Văn hóa - Xã hội.
Cán bộ chuyên trách ở xã của thành phố Hà Nội cũng nằm trong các quy định chung về cán bộ, công chức nói trên. Thứ hai: Cán bộ không chuyên trách là những người chỉ tham gia việc công trong một phần thời gian lao động. Căn cứ hướng dẫn của Trung ương, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định về số lượng và mức phụ cấp cho cán bộ không chuyên trách trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở. Cán bộ không chuyên trách xã, phường, thị trấn của thành phố Hà Nội được quy định theo Nghị quyết số 13/2008/NQ-HĐND ngày 09/12/2008 của Hội đồng nhân dân Thành phố khóa XIII, kỳ họp thứ XVII như sau: + Trưởng ban Tổ chức Đảng, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Đảng, trưởng ban Tuyên giáo và một cán bộ văn phòng đảng ủy xã.
+ Phó trưởng công an xã + Phó chỉ huy trưởng quân sự xã. + Cán bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. + Cán bộ văn thư, thủ quỹ hoặc cán bộ làm công tác tiếp nhận hành chính theo cơ chế một cửa. + Trưởng Đài truyền thanh hoặc cán bộ phụ trách Đài truyền thanh.
+ Cán bộ kế hoạch - giao thông - thủy lợi - công nghiệp - nông, lâm, ngư nghiệp. + Cán bộ dân số - gia đình và trẻ em. + Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, phó các đoàn thể và Chủ tịch các hội Người cao tuổi, Chữ thập đỏ. 14 Từ các quy định trên, theo phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn, cán bộ xã ở Thành phố Hà Nội nói trong luận văn bao gồm tất cả những người là cán bộ chuyên trách và không chuyên trách trong hệ thống chính trị xã.
* Vai trò của đội ngũ cán bộ xã ở Thành phố Hà Nội Lịch sử cho thấy, để tiến hành đấu tranh cách mạng có kết quả cần có những người tổ chức, lãnh đạo phong trào.ăngghen đã khẳng định: “Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [56, tr. Con người mà hai ông đã nói chính là cán bộ, những người có vai trò lãnh đạo quần chúng thực hiện các tư tưởng cách mạng. Đối với sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân, dù chưa có nhiều thực tế để bàn về vấn đề cán bộ và công tác cán bộ, C.ăng ghen luôn cho rằng cần phải có một đội ngũ vừa có tri thức lý luận, lòng trung thành với lý tưởng của giai cấp, vừa có năng lực tổ chức thực tiễn mới có khả năng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đó.Lênin, người kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác, đã đặc biệt coi trọng vai trò của cán bộ.