Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNGCÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ CHÍNH SÁCH BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức cấp xã Công chức là một bộ phận quan trọng của nền hành chính nhà nước, bảo đảm cho nền hành chính hoạt động thông suốt, thống nhất và có hiệu quả.
Công chức là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc đặc điểm của mỗi quốc gia và trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Ở một số nước, công chức chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động quản lý nhà nước. Trong khi đó, ở một số nước khác, ngoài những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước, chế độ công chức còn được áp dụng cho những người làm trong các cơ quan dịch vụ công. Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và phát triển liên tục theo tiến trình lịch sử, qua mỗi thời kỳ khác nhau lại có quan niệm khác nhau về công chức.
Ở Việt Nam, Luật cán bộ, công chức sửa đổi 2020 quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [22]. 10 Luan van “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ NSNN”[22]. Cũng theo khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ công chức, công chức cấp xã bao gồm các chức danh như: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hóa - xã hội. Số lượng công chức cấp xã được nêu rõ tại Điều 4 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 sửa đổi, bổ sung Nghị định 29/2013/NĐ- CP của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế định, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được quy định như sau: “Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 không quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp xã loại 3 không quá 21 người (bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã) [7].
Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn”. Như vậy, công chức cấp xã là những người được tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực 11 Luan van tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn cấp xã. Đặc điểm của công chức cấp xã Công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ, công chức trong nền công vụ Việt Nam. Tuy nhiên, do vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã nên đội ngũ công chức cấp xã có những đặc điểm mang tính đặc thù như sau: Thứ nhất, so với cán bộ chuyên trách cấp xã thì đội ngũ công chức cấp xã có tính ổn định tương đối và có tính chuyên môn hóa cao.
Thứ hai, công chức cấp xã là người trực tiếp tiếp nhận nhanh nhất những tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, phản ánh cho Đảng và Nhà nước để kịp thời điều chỉnh, sửa đổi, đề ra đường lối, chủ trương, chính sách sát hợp với thực tiễn phong trào. Đem quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành. Thứ ba, hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã mang tính đa dạng, phức tạp, họ phải giải quyết một khối lượng công việc lớn bao gồm tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội ở địa phương. Những công việc đó mang tính thường xuyên, liên tục đòi hỏi công chức cấp xã phải có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người dân.
Các công việc quản lý nhà nước ở cơ sở thường đa dạng và luôn có sự đan xen các mối quan hệ lợi ích; do đó, đòi hỏi công chức cấp xã là “người làm dâu trăm họ”, họ phải giải quyết công việc của địa phương đảm bảo đúng quy định, pháp luật của nhà nước, nhưng cũng phải hợp lòng dân, được dân tin, dân yêu, dân chăm lo. Đa phần công chức cấp xã 12 Luan van là người địa phương, chỉ có một số ít là người của địa phương khác hoặc được cấp trên tăng cường về, hoặc luân chuyển từ địa phương này sang địa phương khác. Vì vậy, họ là những người thường am hiểu rất rõ về đời sống kinh tế, tâm tư, nguyện vọng, sinh hoạt thường ngày, văn hoá ứng xử, phong tục, tập quán, lối sống của người dân trên địa bàn mình quản lý, làm việc. Điều này đã tạo được sự thuận lợi nhất định cho công chức cấp xã thực hiện việc quản lý nhà nước và giải quyết tốt các vấn đề phát sinh Thứ tư, hiện nay trình độ của công chức cấp xã đã từng bước được nâng lên, tuy nhiên so với yêu cầu hiện đại hóa của nền hành chính, trình độ của công chức cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là công chức ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, đội ngũ công chức cấp xã phần lớn là những người trưởng thành từ thực tiễn hoạt động phong trào của địa phương hoặc được tuyển dụng nhưng không đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nên hầu hết công chức cấp xã chưa được đào tạo bài bản, đúng qui trình hay thực hiện việc chuẩn hóa đối với đội ngũ cán bộ này. Vì vậy, công chức cấp xã sau khi được tuyển dụng thì phải cử đi đào tạo và đào tạo lại nên năng lực thực hiện nhiệm vụ trong quản lý nhà nước của đội ngũ này còn nhiều hạn chế nhất định. Thực tế đã cho thấy, một bộ phận công chức cấp xã thiếu những kiến thức chuyên môn nghiệp vụ hoặc không am hiểu, thành thạo mọi kỹ năng cần thiết cho hoạt động công vụ và một bộ phận công chức cấp xã có thái độ ứng xử chưa phù hợp trong xử lý và giải quyết công việc, tiếp xúc với nhân dân. Từ những đặc điểm trên, có thể thấy công chức cấp xã có vị trí rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng QLNN, giữ vai trò làm cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Đây cũng là lý do cần phải đẩy mạnh công tác bồi dưỡng công chức cấp xã để mang lại hiệu quả cao trong hoạt động thực thi công vụ, cầncónhữngcáchthức,phươngpháp,lộtrìnhvàbướcđisaochophùhợp,xemxét 13 Luan van cảvềnộidung,chươngtrìnhvàcáchthứctổchứcthựchiệnđốivớitừngđốitượng đặcthùđểđảmbảo tínhhiệuquảlâudài,đápứngngàycàngtốthơnnhucầuđào tao, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ sau khi được cử tham gia bồi dưỡng trong bối cảnh hiện nay. Vai trò của công chức cấp xã Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành công vụ của nền hành chính. Vai trò ấy càng được thể hiện rõ trong tiến trình hội nhập và toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay. Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm công chức là bộ phận gần dân nhất, là nơi tiếp nhận nhanh nhất những tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của người dân; hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã góp phần tạo ra định hướng phát triển, dẫn dắt các hành vi, hoạt động của công dân, tổ chức tại địa phương theo đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Do đó, những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quyết định của chính quyền địa phương có phản ánh đúng thực tiễn quản lý và đời sống xã hội hay không, là phụ thuộc rất lớn ở chất lượng hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã. Đồng thời, công chức cấp xã có nhiệm vụ phản ánh lại những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của người dân lên các cơ quan có thẩm quyền, nhằm tham mưu trong việc hoạch định các chính sách, các quyết định lãnh đạo, quản lý phù hợp với thực tiễn của địa phương và đáp ứng nhu cầu của người dân. Thứ hai, hoạt động của công chức cấp xã góp phần thúc đẩy nhanh quá trình hiện thực hóa các mục tiêu phát triển KT-XH của quốc gia và địa phương. Mỗi một hoạt động của người công chức đều có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Đây được coi là lực lượng nòng cốt trong xây dựng các chương trình, kế hoạch và tổ chức thực thi nhằm hiện 14 Luan van thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; các quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên, cơ quan quyền lực cùng cấp và ngay chính những quyết định do cơ quan hành chính nhà nước ban hành. Với đội ngũ công chức cấp xã am hiểu pháp luật, thuần thục quy trình nghiệp vụ, có trình độ năng lực và phẩm chất tốt thì những quyền, lợi ích chính đáng cũng như những nhu cầu bức thiết của người dân và xã hội sẽ nhanh chóng được giải quyết, KT-XH địa phương, đất nước phát triển, đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Thứ ba, chất lượng hoạt động của công chức cấp xã quyết định đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Cơ quan nhà nước là tổ chức công quyền đại diện cho toàn xã hội khai thác và sử dụng các nguồn lực của địa phương và quốc gia cho các mục tiêu khác nhau trong từng thời kỳ phát triển.