Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước ở Việt Nam. 9 - Chương 2: Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. - Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước tại phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. CHƢƠNG 1 10 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ NGUỒN NƢỚC Ở VIỆT NAM 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nguồn nước Cuộc sống thường ngày của chúng ta luôn được gắn liền với nước, từ những công việc nhỏ nhất như nấu nướng, giặt giũ, sinh hoạt… cho đến những công việc lớn lao hơn như đồng áng, sản xuất. Nước được chúng ta sử dụng thường xuyên như vậy nhưng lại ít ai quan tâm đến nó. Vậy nguồn nước là gì? Và nguồn nước nào có thể sử dụng được? Hiện nay có khá nhiều khái niệm về nguồn nước được trình bày, sau đây là một số khái niệm: - Theo J.Jonnes, tài nguyên nước được chia thành ba loại: + Tài nguyên tiềm năng tương lai, là toàn bộ lượng nước có trên Trái Đất mà trong điều kiện hiện nay loài người hầu như chưa có khả năng khai thác, như nước ngầm nằm rất sâu, nước trong băng tuyết hai cực, nước biển và đại dương… + Tài nguyên tiềm năng thực tại, là lượng nước có trong lãnh thổ, nhưng ở trạng thái tự nhiên con người khó khai thác và có nguy cơ bị nó gây hại, hoặc xảy ra rủi ro, ví dụ như nước lũ, nước ngầm nằm sâu… + Tài nguyên hiện thực của một vùng, là khái niệm trùng với quan điểm truyền thống hiện nay, chỉ toàn bộ lượng nước có trong các thuỷ vực mặt và ngầm mà con người dễ dàng khai thác sử dụng.7] - Tại Điều 2, Luật Tài nguyên nước Việt Nam (2012) định nghĩa: + Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
+ Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác. Rõ ràng, tài nguyên nước của một lãnh thổ là toàn bộ lượng nước có trong đó mà con người có thể khai thác và sử dụng được xét cả mặt lượng và chất, cho sinh hoạt, sản xuất trong hiện tại và tương lai. Chính sách, chính sách công và chính sách bảo vệ nguồn nước 1. Chính sách Chính sách là một thuật ngữ được sử dụng rất rộng rãi trong đời sống xã hội.
Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những phản ứng của chính quyền. Những phản ứng đó khi định hình và thể hiện một cách chính thức được gọi dưới cái tên “chính sách”. “Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn” [9, tr. Mặc dù chính sách của nhà nước là vấn đề nghiên cứu từ rất lâu, nhưng chỉ trở thành vấn đề được xem xét có tính hệ thống từ vài thập kỷ gần đây.
Sự phát triển của nó gắn với một số (không nhiều) sự kiện lớn trên thế giới, đánh dấu sự thay đổi từ khi kết thúc thế chiến thứ hai. Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell đề cập lần đầu tiên từ năm 1951. Đến nay, khoa học chính sách đã có những phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những nội dung trọng tâm của khoa học xã hội. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chính sách, mỗi cách tiếp cận liên quan trực tiếp tới tính đặc thù của từng lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… Mỗi cách tiếp cận giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một hướng tư duy.
Từ thực tế chính sách của các ngành, các địa phương và các quốc gia, cũng như qua những cuộc thảo luận trên các diễn đàn nghiên cứu chính sách, dưới đây là một số định nghĩa khác nhau về chính sách: - Nhà chính trị học Mỹ - Theodore Lowi cho rằng: “Chính sách là cái biểu hiện của chính trị” [27, tr. - Theo Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…” [33, tr. Tóm lại, chính sách được hiểu là tập hợp các biện pháp do các nhà lãnh đạo/nhà quản lý đề ra để giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội, là khung thể chế cho các hoạt động trong thực tiễn. Chính sách công Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực công” được gọi là chính sách công (CSC).
Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ thuần 12 túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết. CSC là chính sách của nhà nước, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nhà nước. CSC có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đến nay, đã có nhiều định nghĩa về CSC, cụ thể: William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” [15, tr.
Theo tác giả, CSC là một quá trình chứ không chỉ đơn giản là một sự lựa chọn; đồng thời, định nghĩa này cũng cho thấy một cách rõ ràng CSC là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau” và quá trình chính sách là hành vi định hướng mục tiêu của nhà nước. Theo tác giả Lê Chi Mai: “CSC là thuật ngữ dùng để chỉ một chuỗi các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống KTXH theo mục tiêu xác định” [14, tr. Như vậy có rất nhiều định nghĩa về “CSC” tùy theo những góc độ tiếp cận khác nhau. Tựu chung lại, có thể hiểu “CSC là tập hợp các quyết định của Nhà nước để giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống của cộng đồng, người dân nhằm hướng tới mục tiêu phát triển KTXH”.
Hiểu theo nghĩa rộng: là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ người dân. Chính sách bảo vệ nguồn nước Tài nguyên nước thuộc sở hữu của toàn dân, là tài sản của nhà nước và là tài nguyên đặc biệt quan trọng. Do đó chính sách bảo vệ nguồn nước là chính sách công. Có thể định nghĩa Chính sách bảo vệ nguồn nước là tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về bảo vệ tài nguyên nước nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ nguồn nước cho phát triển bền vững của đất nước.
Một số lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước 1. Cơ sở lý luận thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước Nhà nước phải ban hành một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ nguồn nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động bảo vệ nguồn nước. Tuy nhiên, để những chính sách và pháp luật về bảo vệ nguồn nước đi vào cuộc sống và trở thành hành vi xử sự, hợp pháp của các chủ thể pháp luật về bảo vệ nguồn nước, phát huy tác dụng của nó trong thực tiễn, Nhà nước phải giữ vai trò trụ cột trong việc thực hiện và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước. Thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ nguồn nước đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ nguồn nước; bảo vệ, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ nguồn nước.
Chính sách bảo vệ nguồn nước được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, , tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội. Các hình thức tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ nguồn nước rất đa dạng, phong phú. Hệ thống tổ chức quản lý tài nguyên nước của nhà nước và hệ thống các tổ chức, các cộng đồng được phối kết hợp với nhau trong tổ chức thực hiện chính sách tài nguyên nước dưới nhiều hình thức khác nhau. Các nguyên tắc về bảo vệ Tài nguyên nước theo quy định tại Điều 3, Luật Tài nguyên nước năm 2012 gồm: - Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải tuân theo chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; gắn với bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh và các tài nguyên thiên nhiên khác; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Bảo vệ tài nguyên nước là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và phải lấy phòng ngừa là chính, gắn với việc bảo vệ, phát triển rừng, khả năng tái tạo tài nguyên nước, kết hợp với bảo vệ chất lượng nước và hệ sinh thái thủy sinh, khắc 14 phục, hạn chế ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước. - Việc quản lý tài nguyên nước phải bảo đảm thống nhất theo lưu vực sông, theo nguồn nước, kết hợp với quản lý theo địa bàn hành chính.