Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thực hiện chính sách BVMT. - Chương 2: Thực hiện chính sách BVMT tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. - Chương 3: Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách BVMT từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Môi trường - Môi trường là khái niệm rộng với nhiều định nghĩa khác nhau. Quan niệm chung nhất và rộng nhất là gồm chúng ta và tất cả những gì xung quanh chúng ta, gồm môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo. Theo khoản 1 Điều 3 Luật BVMT (BVMT) năm 2014 định nghĩa “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [14, tr.
“Môi trường” cũng có thể được hiểu là toàn bộ những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong quan hệ với con người, sinh vật ấy. Như vậy, chúng ta có thể hiểu các thành tố của môi trường bao gồm: - Môi trường tự nhiên: là những gì vốn có trong tự nhiên, là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống tự nhiên và vận động theo những quy luật của tự nhiên, ví dụ như: đất, nước, không khí,… - Môi trường nhân tạo: là những gì con người tạo ra đưa vào môi trường như chất thải (rắn, lỏng, khí) hoặc làm biến đổi, thay đổi các thành phần của môi trường tự nhiên, làm cho môi trường tự nhiên (ở khu vực nhất định) trở thành một trạng thái đặc biệt, như môi trường ở khu vực đô thị hay công trường xây dựng, khu công nghiệp, … Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Môi trường có 5 chức năng sau: - Là không gian sống: con người và các sinh vật khác chỉ có thể tồn tại và phát triển trong môi trường tự nhiên nhất định. Đó là không gian sống, sinh tồn duy nhất.
nghĩa là môi trường tự nhiên cung cấp các điều kiện sống cơ bản cho mọi loài, trong đó có con người. 8 - Là nơi cung cấp đầu vào (tài nguyên): là không gian sống, sinh tồn của con người nên môi trường đồng thời cũng là nơi (nguồn) cung cấp các yếu tố vật chất như là “đầu vào” cho các quá trình lao động, sản xuất ra của cải vật chất cho cuộc sống của con người và xã hội, như khoáng sản, gỗ, nước, … - Là nơi chứa (tiếp nhận) chất thải: chất thải là vật chất còn lại không được sử dụng tiếp tục cho hoạt động lao động, sản xuất và sinh hoạt con người, được thải ra và môi trường là nơi duy nhất tiếp nhận mọi chất thải. Trong phạm vi không gian nhất định, môi trường chỉ có thể tiếp nhận có giới hạn một lượng chất thải nhất định, được gọi là năng lực tải hay mức chịu tải của môi trường. - Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật: hạn chế lũ lụt, điều hòa khí hậu, chắn bão cát… - Là nơi lưu giữ thông tin sự sống (nguồn gen, đa dạng sinh học, .): đây là chức năng mới được các nhà khoa học môi trường bổ sung, xuất phát từ những thông tin sự sống được lưu giữ trong tự nhiên được khoa học khám phá và khai thác cho phát triển xã hội.
Trong xã hội hiện đại, thông tin là một tài nguyên thì cũng có thể coi môi trường tự nhiên cung cấp một loại tài nguyên đặc biệt - thông tin về sự sống. Bảo vệ môi trường Hoạt động BVMT “là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành” [17]. Nguyên tắc về BVMT được quy định tại Điều 4 Luật BVMT năm 2014, gồm: - BVMT là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. - BVMT gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành.
- BVMT phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lý tài nguyên, giảm thiểu chất thải. 9 - BVMT quốc gia gắn liền với BVMT khu vực và toàn cầu; BVMT bảo đảm không phương hại chủ quyền, an ninh quốc gia. - BVMT phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa, lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. - Hoạt động BVMT phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường.
- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa vụ đóng góp tài chính cho BVMT. - Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Chính sách BVMT Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý. Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [2].
Chính sách công cũng có thể được hiểu “là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [5]. Từ quan niệm trên, chính sách công được hiểu theo nghĩa rộng: là kết quả của việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị với mục tiêu, giải pháp, công cụ nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của nhà nước, phát triển kinh tế, xã hội và phục vụ người dân. Chính sách BVMT (hay chính sách môi trường) là chính sách công. Như vậy, có thể định nghĩa Chính sách BVMT là tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về BVMT nhằm thực hiện các mục tiêu BVMT cho phát triển bền vững của đất nước.
Thực hiện chính sách BVMT Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành của chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực. Tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước thực hiện hoá chính sách vào đời sống xã hội. Như vậy thực hiện chính sách BVMT là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về BVMT; bảo vệ, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về BVMT đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành và bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững. Chính sách môi trường được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ chức quản lý môi trường cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội.
Các hình thức tổ chức thực hiện chính sách môi trường rất đa dạng, phong phú, bao gồm từ các hình thức mang tính hành chính của quản lý nhà nước cho đến tuyên truyền, vận động, giáo dục, nâng cao nhận thức về BVMT cũng như các phong trào BVMT mang tính chất định kỳ và không định kỳ. Hệ thống tổ chức quản lý môi trường của nhà nước và hệ thống các tổ chức, các cộng đồng được phối kết hợp với nhau trong tổ chức thực hiện chính sách môi trường dưới nhiều hình thức khác nhau. Các yếu tố ảnh hƣởng tới thực hiện chính sách BVMT Các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách công nói chung và chính sách BVMT nói riêng có nhiều và được phân chia thành các nhóm khác nhau. Ở đây sử dụng cách phân chia thành: nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan.
Các yếu tố chủ quan 1. Hệ thống chính trị Hệ thống chính trị của mỗi quốc gia sẽ chi phối cả nội dung lẫn hình thức của việc xây dựng và triển khai chính sách công, nó phản ánh bản chất của chế độ chính 11 trị xã hội của quốc gia đó. Trong hệ thống chính trị thì có thể chia các yếu tố nhỏ hơn nữa. Bao gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thế chế chính trị.
- Văn hóa chính trị Theo “Văn hóa chính trị là chất lượng tổng hòa của tri thức, tình cảm, niềm tin chính trị, tạo thành ý thức chính trị của công dân, thúc đẩy họ hướng tới những hành động tích cực phù hợp với lý tưởng chính trị, xã hội…” [Hoàng Chí Bảo, 2016]. Văn hóa chính trị tác động mạnh mẽ đến chính sách công nói chung và chính sách BVMT nói riêng vì nó tạo nên niềm tin chính trị, ý thức chính trị của những nhà hoạch định chính sách đặc biệt là chính sách BVMT được xem là vấn đề văn hóa và đạo đức. BVMT còn liên quan cả đến phát triển bền vững bao hàm cả 3 yếu tố phát triển kinh tế, BVMT và công bằng xã hội. - Hiến pháp Hiến pháp là yếu tố quan trọng thứ hai ảnh hưởng đến quá trình xây dựng chính sách công.
Hiến pháp năm 2013 là cơ sở pháp lý cao nhất buộc mọi chính sách công phải tuân theo. Do đó, chính sách BVMT cũng được xây dựng và tổ chức thực hiện trong khuôn khổ của Hiến pháp. Những quy định của chính sách BVMT cũng phải tuân theo Hiến pháp và không được vượt qua khỏi những quy định của pháp luật.