CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Môi trường Khái niệm về môi trường được thảo luận từ rất lâu, dưới đây là một số khái niệm điển hình: Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường đối với con người được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin.) trong đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình". Bảo vệ môi trường * MT là không gian sống của con người và các loài sinh vật Mỗi một con người đều có yêu cầu về lượng không gian cần thiết cho hoạt động sống như: diện tích đất ở, hàm lượng không khí.
Trung bình một ngày, một người cần khoảng 4m3 không khí sạch, 2,5l nước uống, một lượng lương thực, thực phẩm đáp ứng hàm lượng calo từ 2. Môi trường chính là khoảng không gian sinh sống của con người. * MT cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người. Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu được gọi là tài nguyên tái tạo.
Ví dụ như nước ngọt, đất, sinh vật, v. là loại tài nguyên mà sau một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu. Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin bị mất mát, biến đổi 7 hoặc suy thoái không trở lại dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên không tái tạo. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản, gien di truyền.
Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ mỏ, sẽ được chế biến thành các vật liệu của con người, do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian. Tài nguyên gen di truyền của các loài sinh vật quý hiếm, có thể mất đi cùng với sự khai thác quá mức và các thay đổi về môi trường sống. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên mới và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng sản phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường sống. * MT là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường rất nhiều chất thải.
Những chất thải này nếu không được xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế được nhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác động tiêu cực đối với môi trường. Hiện nay vấn đề chất thải đô thị và công nghiệp là cực kỳ quan trọng. Có quan điểm cho rằng “ có một số chất thải là một dạng tài nguyên” do đã có công nghệ chế biến chất thải thành phân bón.
Đó là một dạng “công nghệ thân thiện với môi trường”. Tuy nhiên mặc dù điều kiện phát triển đến đâu thì các nhu cầu tự nhiên của con người như ăn, uống, thở cũng đều yêu cầu môi trường trong sạch. * MT là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Môi trường sống cung cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con người và sinh vật sống trên trái đất như các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, động đất… Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các 8 loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác. Chính sách bảo vệ môi trường Chính sách MT là tổng thể các quan điểm, các biện pháp, các thủ thuật nhằm thực hiện các mục tiêu BVMT và PTBV quốc gia, của ngành kinh tế hoặc một công ty.
Cụ thể hóa chính sách trên cơ sở các nguồn lực nhất định để đạt các mục tiêu do chính sách MT đặt ra là nhiệm vụ chiến lược MT. Chính sách MT Việt Nam được trình bày trong kế hoạch Quốc gia về MT và phát triển lâu bền đảm bảo phát triển bền vững. Quy hoạch MT là cụ thể hóa các chiến lược, chính sách về BVMT và là cơ sở để xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động MT. Quy hoạch MT được coi là công cụ có tính chiến lược trong phát triển, BVMT; được coi là phương pháp tích hợp để tiến tới tương lai theo một phương hướng, mục tiêu định sẵn.
Quy hoạch MT được thực hiện ở nhiều cấp độ khác nhau theo phạm vi, lãnh thổ quốc gia, khu vực, tỉnh/ thành phố, cộng đồng nhỏ, dự án. Chính sách Quan điểm Biện pháp Thủ thuật Mục tiêu cụ thể Hình 1.1: Sơ đồ nội dung chính sách quản lý Nguồn: Lưu Đức Hải, Cẩm nang QLMT, NXB Giáo dục 2006 9 Chính sách môi trường là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược, thời đoạn, nhằm giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào đó, trong một giai đoạn nhất định". Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương. Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường Nhằm hình thành các nhóm chuyên môn hóa, các phần tử cấu thành hệ thống môi trường để góp phần vào hệ thống định hướng cho các mục tiêu mong muốn trước mắt và lâu dài và phối hợp hoạt động chung của nhóm, của phân hệ trong hoạt động MT.
Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường: nhằm tạo cơ sở dữ liệu về chất lượng các thành phần MT phục vụ cho quy hoạch và phát triển KT-XH. Đồng thời tạo cơ sở dữ liệu cho việc kiểm soát chất lượng các thành phần MT và ô nhiễm MT phát sinh dưới tác động của các quá trình tự nhiên và nhân tạo. Quan trắc MT là tập hợp các biện pháp khoa học, công nghệ, tổ chức đảm bảo kiểm soát một cách liên tục và hệ thống trạng thái và khuynh hướng phát triển của các quá trình tự nhiên và nhân tạo đối với nhiều quy mô và nhiều loại đối tượng, chịu tác động của các hoạt động của con người. Bên cạnh việc theo dõi hiện trạng và tác động MT, quan trắc MT còn là biện pháp tổng hợp để kiểm soát các nguồn phát sinh chất ô nhiễm của các hoạt động SX kinh doanh.
Số liệu thường được sử dụng trong đánh giá hiện trạng MT. Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh: ĐTM là xác định và dự báo các tác động của hành động phát triển (KT-XH, chính sách, pháp luật) đến MT khu vực, một vùng hoặc toàn quốc. Hành động phát triển có thể tạo ra tác động tích cực, tiêu cực đến MT và sự phát triển nói chung nhằm đưa ra các giải pháp ngăn ngừa, hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường. Đồng thời việc thẩm 10 định các báo cáo đánh giá tác động MT nhằm góp thêm tư liệu khoa học cần thiết cho việc ra quyết định thực hiện một hành động phát triển.
Sau khi nhận các báo cáo đánh giá tác động môi trường, tiến hành thành lập các hội đồng thẩm định các báo cáo với sự tham gia của các bên liên quan và chính quyền địa phương. Tạo sự thống nhất chặt chẽ, minh bạch và công khai trong quá trình thẩm định. Đào tạo cán bộ quản lý môi trường: tổ chức các lớp tập huấn cho các chuyên viên hoạt động trong lĩnh vực MT, đào tạo bồi dưỡng về khoa học và QLMT nhằm nâng cao năng lực QLMT của Nhà nước ở các cấp. Mục đích của việc đào tạo nguồn nhân lực nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào giữ gìn, bảo tồn và sử dụng MT theo cách bền vững.
Đồng thời tăng cường kỹ năng sử dụng các công nghệ mới nhằm tăng sản lượng kinh tế, tránh những thảm họa MT, tận dụng các cơ hội và ñưa ra các quyết ñịnh khôn khéo trong việc sử dụng TN. Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường: triển khai cấp giấy xác nhận kế hoạch bảo vệ môi trường ở các cấp; theo dõi quản lý việc cấp và thẩm định ĐTM; sau khi cấp phép tiến hành thanh tra, giám sát về việc thực hiện các nhiệm vụ BVMT nếu có vi phạm thì xử lý hoặc thu hồi giấy phép. Việc cấp phép và thu hồi giấy phép do Sở TN&MT chịu trách nhiệm. Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 1.
Các yếu tố chủ quan 1. Hệ thống chính sách về bảo vệ môi trường Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 06/8/2016 về một số nhiệm vụ, 11 giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường. Đầu năm 2017, Bộ đã có văn bản đề nghị các Bộ, ngành, địa phương đánh giá tình hình thi hành Luật bảo vệ môi trường năm 2014, xác định các vấn đề vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành Luật, những chồng chéo, xung đột giữa Luật bảo vệ môi trường và các pháp luật khác có liên quan; đề xuất các nội dung cần sửa đổi bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, đã thành lập Ban chỉ đạo và ban hành Kế hoạch xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến bảo vệ môi trường, Tổ công tác, Nhóm chuyên môn rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo vệ môi trường năm 2014, phân công các đơn vị thuộc Bộ chuẩn bị vấn đề và nội dung sửa đổi.