CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 1. Một số khái niệm liên quan đến thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 1. Môi trường và bảo vệ môi trường Môi trường là khái niệm có nội hàm vô cùng rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong cuộc sống người ta dùng nhiều khái niệm môi trường như môi trường sư phạm, môi trường xã hội, môi trường giáo dục… Môi trường theo định nghĩa thông thường “là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy” [26, tr.618] hay là “sự kết hợp toàn bộ hoàn cảnh hoặc điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của một thực thể hữu cơ” [25, tr.
Môi trường nhân tạo bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo ra trên cơ sở quy luật của tự nhiên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, phục vụ cuộc sống của chính mình như ô tô, máy bay, điện thoại, công trình thủy lợi, công trình nghệ thuật, công trình xây dựng. Môi trường xã hội là tổng hợp tất cả các yếu tố về xã hội có liên quan và tác động tới đời sống con người. Đó là những quy định ở các cấp khác nhau của: Liên hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể. Tuy nhiên khái niệm về môi trường được sử dụng một cách thống nhất hiện nay tại Việt Nam là định nghĩa về môi trường trong Luật Bảo vệ môi trường đã được thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014 như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Môi trường dưới sự tác động của con người luôn có xu hướng bị ô nhiễm. Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn 11 môi trường, thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính vật lý, hóa học, nhiệt độ, sinh học, chất hòa tan, chất phóng xạ… 1. Chính sách bảo vệ môi trường và thực hiện chính sách bảo vệ môi trường Chính sách bảo vệ môi trường phải cụ thể hoá Luật Bảo vệ Môi trường (trong nước) và các Công ước quốc tế về môi trường. Ở mỗi cấp có thẩm quyền quản lý hành chính về môi trường đều có những chính sách môi trường riêng.
Nó vừa cụ thể hoá luật pháp và những chính sách của các cấp cao hơn, vừa tính tới đặc thù địa phương. Việc ban hành chính sách của các cấp địa phương có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự thành công của các chính sách do cấp trung ương. Theo quy định tại Luật Bảo vệ môi trường, các chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường được pháp luật quy định khá cụ thể như: Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường. Ðẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp áp dụng các biện pháp hành chính, kinh tế và các biện pháp khác để xây dựng ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường.
Sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải. Ưu tiên giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc; tập trung xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; phục hồi môi trường ở các khu vực bị ô nhiễm, suy thoái; chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư. Ðầu tư cho việc bảo vệ môi trường là đầu tư cho sự phát triển; thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường và bố trí khoản chi riêng cho sự nghiệp môi trường trong ngân sách nhà nước hằng năm. Việc ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và các sản phẩm thân thiện với môi trường; kết hợp hài hoà giữa bảo vệ và sử dụng có hiệu quả các thành phần môi trường cho phát triển.
Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích nghiên cứu, áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ về bảo vệ môi trường; hình thành và phát triển ngành công nghiệp môi trường. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế; thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về 12 bảo vệ môi trường; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường. Phát triển kết cấu hạ tầng bảo vệ môi trường; tăng cường, nâng cao năng lực quốc gia về bảo vệ môi trường theo hướng chính quy, hiện đại. Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hoạt động bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, để những chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống và trở thành hành vi hợp pháp của các chủ thể về bảo vệ môi trường, phát huy tác dụng của nó trong thực tiễn. Như vậy có thể khẳng định, Chính sách bảo vệ môi trường là một nội dung của Chính sách công bao gồm hệ thống thể chế quy định về hoạt động bảo vệ môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm định hướng và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống liên quan đến môi trường nhằm bảo vệ môi trường trước những xâm hại của con người, qua đó tạo lập môi trường sống trong lành và xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững. Như vậy thực hiện chính sách bảo vệ môi trường là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường; bảo vệ, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đảm bảo quyền con người được sống trong môi trường trong lành và bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững. Chính sách môi trường được tổ chức thực hiện thông qua hệ thống tổ chức quản lý môi trường cùng với sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp và các cộng đồng trong xã hội.
Các hình thức tuyên truyền, vận động, thuyết phục để người dân nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường. Hệ thống tổ chức quản lý môi trường của nhà nước và hệ thống các tổ chức, các cộng đồng được phối kết hợp với nhau trong tổ chức thực hiện chính sách môi trường dưới nhiều hình thức khác nhau. Các bước tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường 13 Tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường là hoạt động của các chủ thể thực hiện chính sách thông qua trình tự các bước nhằm thực hiện chính sách bảo vệ môi trường trên thực tế. Chính sách bảo vệ môi trường là một nội dung của Chính sách công, do đó các bước tổ chức thực hiện chính sách bảo vệ môi trường về cơ bản tương tự với Chính sách công, tuy nhiên có một số đặc trưng riêng, cụ thể: Bước 1.
Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo vệ môi trường. Đây là bước đầu tiên và có ý quan trọng quyết định thành bại của việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường. Hệ thống chủ thể thực hiện chính sách bảo vệ môi trường theo thẩm quyền được phân công xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách với các nội dung như: + Kế hoạch tổ chức nhân sự bao gồm: bộ phận điều hành, bộ phận thực thi, giám sát…; + Kế hoạch xây dựng các phương án về vật chất, tiền bạc… cho việc thực hiện chính sách; + Kế hoạch cho từng giai đoạn cụ thể với mục tiêu cụ thể của quá trình thực hiện chính sách bảo vệ môi trường; + Kế hoạch về các nội dung khen thưởng và chế tài cho các cá nhân, tổ chức thực hiện chính sách; + Kế hoạch đánh giá, lấy ý kiến của những đối tượng chịu tác động của việc thực hiện chính sách ở từng giai đoạn và sau khi chính sách được thực hiện; Kế hoạch thực hiện chính sách bảo vệ môi trường phải được xây dựng dựa vào những quy định thống nhất của Nhà nước về bảo vệ môi trường, phù hợp với mục tiêu, nội dung của chính sách và mang tính khả thi. Bên cạnh đó, kế hoạch phải được ban hành bởi cá nhân, cơ quan đúng thẩm quyền quy định và được xây dựng đảm bảo dân chủ, cầu thị.
Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo vệ môi trường. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật là bước giúp quảng bá, truyền thông kế hoạch thực hiện chính sách nói riêng và chính sách bảo vệ môi trường nói chung. Việc tuyên truyền hiệu quả mới thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân 14 và xã hội vào việc thực hiện chính sách, bên cạnh sự hiểu biết tường tận của những người trực tiếp tham gia thực hiện chính sách. Để đảm bảo bước này có hiệu quả, cần thiết có sự chuẩn bị chặt chẽ từ nhân lực đến phương tiện.
Về nhân lực, cần thiết xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên chuyên nghiệp, nắm bắt tâm lý, đặc điểm nhận thức của từng nhóm đối tượng để có phương pháp thực hiện hiệu quả. Phương tiện tuyên truyền phải có sự đan xen giữa các phương tiện truyền thống và hiện đại. Trong đó, tùy đối tượng tuyên truyền để lựa chọn phương tiện truyền thông phù hợp và mang lại hiệu quả cao. Bên cạnh phương tiện truyền thông truyền thống như hệ thống loa phát thanh, tuyên truyền thông qua văn bản thì sử dụng mạng xã hội lại trở nên hiệu quả đối với đại bộ phận giới trẻ.
Hoạt động tuyên truyền, phổ biến được thực hiện thường xuyên, liên tục và không ngừng đổi mới phương pháp lẫn nội dung đảm bảo người được tuyên truyền không cảm thấy nhàm chán để tự miễn nhiễm với những nội dung tuyên truyền. Hoạt động tuyên truyền phải được tổ chức thường xuyên để người được tuyên truyền cập nhật thông tin, nắm bắt được các nội dung một cách liên tục.