Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Đà Nẵng sở hữu vị trí địa kinh tế chiến lược tại miền Trung với đường bờ biển dài 92 km, diện tích tự nhiên 1.256,54 km2 cùng ngư trường trù phú có trữ lượng hải sản khai thác hàng năm đạt từ 37.000 đến 40.000 tấn. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh và áp lực phát triển dịch vụ - du lịch đang đặt hệ sinh thái biển trước nhiều thách thức nghiêm trọng. Thực trạng đáng báo động là toàn thành phố có 29 cửa cống xả nước ven bờ từ quận Liên Chiểu qua Thanh Khê, Hải Châu đến cầu Thuận Phước, cộng thêm 15 cửa xả tại dải bờ biển phía Đông thuộc quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn. Khi xảy ra mưa lớn, lưu lượng nước thải chưa qua xử lý hòa lẫn nước mưa tràn thẳng ra biển, gây ô nhiễm cục bộ và suy giảm cảnh quan tại các bãi tắm trọng điểm.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công của tác giả Trần Tuyết Thương, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Trần Thị Lan Hương tại Học viện Khoa học xã hội, tập trung giải quyết vấn đề bất cập trong việc hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường biển tại thành phố Đà Nẵng. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện bức tranh thực thi chính sách giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018, từ đó xác định các nguyên nhân gốc rễ và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế quản trị biển, hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu hiện thực hóa Đề án "Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố môi trường" với 23 tiêu chí khắt khe, đồng thời bảo tồn bền vững hơn 58 ha rạn san hô quý giá và các nguồn lợi thủy sản ven bờ của địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết chu trình chính sách công và lý thuyết quản lý tổng hợp vùng bờ (Integrated Coastal Zone Management - ICZM). Lý thuyết chu trình chính sách công tiếp cận chính sách như một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ giải quyết các vấn đề xã hội cụ thể theo định hướng phát triển bền vững. Song song với đó, lý thuyết quản lý tổng hợp vùng bờ giúp điều hòa xung đột lợi ích đa ngành giữa các bên liên quan gồm du lịch, công nghiệp, nuôi trồng thủy sản và giao thông hàng hải trên cùng một không gian ven bờ.

Nghiên cứu làm rõ ba khái niệm cốt lõi:

  • Môi trường biển: Toàn bộ hệ thống tự nhiên bao gồm khối nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, các hệ sinh thái sinh vật, chất lượng nước và cảnh quan ven biển theo tinh thần Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) và Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21).
  • Ô nhiễm môi trường biển: Hiện tượng con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất thải, năng lượng độc hại vào môi trường biển, làm suy giảm chất lượng nước và tổn hại tài nguyên sinh vật theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
  • Chính sách bảo vệ môi trường biển: Hệ thống các chủ trương, quy định, quy chuẩn kỹ thuật và công cụ quản lý của Nhà nước nhằm kiểm soát ô nhiễm, phục hồi các hệ sinh thái và duy trì chức năng cung cấp dịch vụ của biển.

Ngoài ra, luận văn còn đối sánh kinh nghiệm quản lý biển từ Đạo luật Quản lý Vùng Ven biển của Mỹ năm 1972 (CZMA), Chiến lược biển quốc gia của Canada năm 2002 và mô hình đô thị sinh thái kiểm soát xả thải nghiêm ngặt của Singapore để rút ra bài học cho Đà Nẵng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010 - 2018 từ Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, Chi cục Bảo vệ môi trường, Chi cục Biển và Hải đảo, cùng các báo cáo chuyên đề của Viện Hải dương học Nha Trang và Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Dữ liệu sơ cấp được kiểm chứng thông qua phương pháp quan sát thực địa tại các điểm nóng môi trường như Âu thuyền Thọ Quang, sông Phú Lộc, Bàu Tràm và 3 khu công nghiệp tập trung với quy mô 861 ha.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để phân tích chuỗi dữ liệu quan trắc chất lượng nước biển ven bờ tại 8 trạm kiểm soát trọng điểm (B1 đến B8), bao gồm: bãi tắm Phạm Văn Đồng, bãi tắm Mỹ Khê, bãi tắm Non Nước, bãi Rạng, cầu cảng Tiên Sa, cửa sông Phú Lộc, cửa sông Cu Đê và cảng Liên Chiểu. Mẫu nước được lấy ở khoảng cách 100 m cách bờ và độ sâu 4 m.

Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp thống kê mô tả nhằm đối chiếu các thông số lý hóa với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển (QCVN 10-MT:2015/BTNMT). Lý do lựa chọn cách tiếp cận này là vì chính sách công đòi hỏi bằng chứng định lượng chính xác về hiện trạng môi trường để làm căn cứ đánh giá hiệu quả của các văn bản pháp quy đã ban hành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm và chính sách của luận văn chỉ ra bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, chất lượng nước biển ven bờ tại các bãi tắm lớn cơ bản vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo QCVN 10-MT:2015/BTNMT. Kết quả phân tích tại 8 vị trí quan trắc cho thấy độ pH dao động từ 8,15 đến 8,24; lượng oxy hòa tan (DO) đạt từ 5,71 đến 6,72 mg/l (vượt mức tối thiểu 4 mg/l); tổng chất rắn lơ lửng (TSS) từ 5 đến 16 mg/l (thấp hơn ngưỡng cho phép 50 mg/l); nồng độ Amoni (NH4+-N) duy trì từ 0,03 đến 0,18 mg/l; các kim loại nặng như Chì (Pb) từ 0,0014 đến 0,0037 mg/l và Cadimi (Cd) từ 0,0012 đến 0,0024 mg/l đều ở mức rất thấp.

Thứ hai, hoạt động khai thác hải sản ven bờ bộc lộ sự thiếu bền vững nghiêm trọng. Trong tổng sản lượng khai thác khoảng 36.801 tấn vào năm 2010, có tới 68,2% sản lượng được đánh bắt ở vùng nước nông ven bờ có độ sâu dưới 30 m bằng các ngư cụ mang tính hủy diệt như lưới mắt nhỏ, xung điện và giã cào.

Thứ ba, hệ sinh thái rạn san hô và sinh vật biển tại bán đảo Sơn Trà suy thoái mạnh. Độ phủ của 58 ha rạn san hô ven bờ hiện chỉ đạt bậc 3 (khoảng 31% đến 50%) tại các khu vực như Bãi Bụt, Hục Lỡ, Mũi Súng và Bãi Nồm. Đáng chú ý, cấu trúc quần thể cá rạn bị xáo trộn nghiêm trọng khi nhóm cá kích thước nhỏ 1 - 10 cm chiếm tới 93,1% số lượng ghi nhận, trong khi cá trưởng thành kích thước 21 - 30 cm ghi nhận mức xấp xỉ 0%.

Thứ tư, áp lực chất thải từ đất liền tăng vọt do tốc độ gia tăng dân số đô thị. Giai đoạn 2000 - 2010, dân số thành phố tăng từ 661.800 người lên hơn 800.000 người, kéo theo mật độ dân số tăng từ 520 người/km2 lên gần 650 người/km2. Áp lực xả thải từ 44 cửa cống ven biển cùng hoạt động của 3 khu công nghiệp rộng 861 ha tạo nên các điểm nghẽn ô nhiễm nguồn nước cục bộ tại vịnh Đà Nẵng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên xuất phát từ sự bất cập trong công tác quản lý nhà nước. Cơ cấu tổ chức bộ máy phân tán theo ngành dọc với hơn 15 bộ ngành và nhiều sở ban ngành cùng tham gia quản lý các hoạt động biển, dẫn đến tình trạng chồng chéo chức năng, thiếu cơ chế phối hợp kiểm tra liên ngành. Tình trạng này khiến các chế tài xử phạt hành vi xả thải trái phép hoặc khai thác san hô làm đồ mỹ nghệ chưa đủ sức răn đe.

Khi so sánh với bức tranh chung của cả nước, nơi 20% diện tích rạn san hô bị mất trong 15 năm qua và chỉ còn khoảng 3% rạn ở tình trạng rất tốt, Đà Nẵng vẫn giữ được tiềm năng phục hồi lớn hơn nhờ diện tích rạn san hô tập trung tại bán đảo Sơn Trà. Tuy nhiên, sự phát triển nóng của các dự án resort, bến du thuyền và tour lặn biển thiếu kiểm soát đang đẩy nhanh tốc độ hủy hoại sinh cảnh.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự phân hóa rõ rệt giữa các chỉ số chất lượng nước đạt chuẩn và mức độ tổn thương sinh học dưới đáy biển. Những dữ liệu này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột đa trục so sánh các chỉ số DO, TSS, NH4+-N tại 8 trạm quan trắc với ngưỡng QCVN 10-MT:2015/BTNMT, kết hợp biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ trọng kích thước cá rạn san hô (93,1% cá nhỏ đối lập với 0% cá trưởng thành) nhằm làm nổi bật sự mất cân bằng sinh thái.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tăng cường hiệu lực thực thi chính sách bảo vệ môi trường biển của Đà Nẵng đến năm 2020 và định hướng các năm tiếp theo, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế thể chế và tài chính công:

  • Ban hành quy chế phối hợp quản lý tổng hợp vùng bờ giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Công an thành phố trước năm 2019.
  • Áp dụng triệt để cơ chế thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Quyết định số 18/2017/QĐ-UBND và phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường theo Nghị quyết số 47/2016/NQ-HĐND. Mục tiêu đặt ra là 100% cơ sở sản xuất tại 3 khu công nghiệp phải đấu nối hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường.

Thứ hai, hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật thoát nước và kiểm soát ô nhiễm:

  • Triển khai dự án tách riêng hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt và hệ thống thoát nước mưa tại toàn bộ 44 cửa xả ven biển phía Đông và vịnh Đà Nẵng giai đoạn 2018 - 2020.
  • Nâng cấp công suất các trạm xử lý nước thải tập trung tại Hòa Cường, Sơn Trà, Phú Lộc, bảo đảm xử lý 100% lượng nước thải đô thị trước khi đổ ra vịnh và biển Đông do Sở Xây dựng phối hợp Công ty Thoát nước và Xử lý nước thải thực hiện.

Thứ ba, chuyển đổi cơ cấu khai thác thủy sản và khoanh vùng bảo tồn:

  • Thực hiện lộ trình cắt giảm tàu khai thác ven bờ công suất dưới 20 CV từ mức 620 chiếc năm 2007 xuống còn 500 chiếc và tiến tới mục tiêu loại bỏ hoàn toàn tàu dưới 20 CV khai thác ven bờ vào năm 2020.
  • Cung cấp chính sách hỗ trợ tài chính cho ngư dân hoán cải, đóng mới tàu vỏ thép công suất lớn vươn khơi xa bờ; thiết lập vùng cấm khai thác nghiêm ngặt đối với 58 ha rạn san hô Nam Hải Vân - Sơn Trà do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ giám sát và nâng cao nhận thức cộng đồng:

  • Lắp đặt mạng lưới trạm quan trắc tự động liên tục truyền dữ liệu tại 8 vị trí bãi tắm và cửa sông trọng điểm.
  • Duy trì thường niên phong trào "Ngày Chủ nhật xanh - sạch - đẹp", chương trình "Tuần lễ Biển và Hải đảo", kết hợp lắp đặt hệ thống thùng rác phân loại và máy sàng cát hiện đại tại 5 bãi biển công cộng do UBND các quận ven biển phối hợp Chi cục Bảo vệ môi trường triển khai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách:

  • Cán bộ tại Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Biển và Hải đảo, Chi cục Bảo vệ Môi trường và UBND thành phố Đà Nẵng cũng như các tỉnh ven biển miền Trung.
  • Giá trị ứng dụng: Cung cấp khung đánh giá thực thi chính sách công, mô hình phân cấp quản lý vùng bờ và giải pháp hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật địa phương về thu phí môi trường.

Thứ hai, giới học thuật, giảng viên và sinh viên sau đại học:

  • Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Chính sách công, Quản lý tài nguyên môi trường, Luật môi trường và Kinh tế phát triển.
  • Giá trị ứng dụng: Làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu chính sách quản lý tài nguyên biển, kỹ thuật xử lý dữ liệu quan trắc và khung lý thuyết ICZM.

Thứ ba, Ban quản lý các khu bảo tồn và doanh nghiệp du lịch, dịch vụ biển:

  • Ban Quản lý Bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng, các hiệp hội du lịch, doanh nghiệp lữ hành và khu nghỉ dưỡng ven biển.
  • Giá trị ứng dụng: Cung cấp bằng chứng thực tế về mức độ suy thoái san hô để xây dựng các quy chế khai thác tour lặn biển văn minh, mô hình du lịch sinh thái không rác thải nhựa.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức phát triển quốc tế:

  • Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đại dương, biến đổi khí hậu và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng ngư dân.
  • Giá trị ứng dụng: Cung cấp dữ liệu cơ sở phục vụ việc thiết kế các dự án viện trợ kỹ thuật, mô hình đồng quản lý bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đánh giá chất lượng nước biển ven bờ Đà Nẵng ở mức độ nào?

Kết quả kiểm tra tại 8 trạm quan trắc trọng điểm gồm Phạm Văn Đồng, Mỹ Khê, Non Nước, Bãi Rạng, Tiên Sa, Phú Lộc, Cu Đê và Liên Chiểu cho thấy toàn bộ các chỉ tiêu lý hóa như DO (5,71 - 6,72 mg/l), TSS (5 - 16 mg/l), kim loại nặng Pb, Cd đều nằm trong ngưỡng an toàn của QCVN 10-MT:2015/BTNMT, bảo đảm tốt cho hoạt động tắm biển và thể thao dưới nước.

Đâu là thách thức lớn nhất đối với hệ sinh thái san hô tại bán đảo Sơn Trà?

Thách thức nghiêm trọng nhất là nạn khai thác san hô trái phép làm đồ mỹ nghệ và tình trạng du khách tự ý bẻ san hô khi lặn biển. Điều này khiến độ phủ của hơn 58 ha rạn san hô chỉ còn ở mức trung bình từ 31% đến 50%, đồng thời cơ cấu cá rạn bị mất cân bằng khi có tới 93,1% là cá nhỏ dưới 10 cm.

Hệ thống thoát nước đô thị tác động tiêu cực như thế nào đến môi trường biển?

Đà Nẵng có tổng cộng 44 cửa cống xả ven biển (29 cửa cống phía vịnh và 15 cửa cống phía Đông). Do dùng chung hệ thống thoát nước mưa và nước thải, mỗi khi có mưa lớn, nước thải chưa qua xử lý bị tràn thẳng ra biển, gây ô nhiễm cục bộ tại một số bãi tắm và cửa sông.

Chính sách chuyển đổi cơ cấu tàu cá của Đà Nẵng có mục tiêu cụ thể ra sao?

Thành phố đặt mục tiêu cắt giảm mạnh đội tàu đánh bắt công suất nhỏ dưới 20 CV từ mức 620 chiếc năm 2007 xuống 500 chiếc năm 2010 và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn tàu dưới 20 CV vào năm 2020, đồng thời ban hành chính sách hỗ trợ ngư dân đóng tàu vỏ thép công suất lớn để vươn khơi xa.

Đề án xây dựng thành phố môi trường đóng góp vai trò gì cho công tác quản lý biển?

Đề án "Xây dựng Đà Nẵng - Thành phố môi trường" thiết lập 23 tiêu chí toàn diện về chất lượng đất, nước, không khí và rác thải. Đề án tạo ra khung pháp lý và mục tiêu định lượng để các cơ quan chức năng đồng bộ hóa giải pháp kiểm soát nguồn thải từ đất liền, ngăn chặn sự cố tràn dầu và giữ gìn thương hiệu du lịch biển.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng thực thi chính sách bảo vệ môi trường biển tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2018, chỉ ra sự đối lập giữa chất lượng nước mặt ven bờ đạt chuẩn và sự suy thoái nghiêm trọng của hệ sinh thái đáy biển.
  • Xác định chính xác các điểm nghẽn quản trị do cơ chế phân tán giữa 15 bộ ngành, tình trạng quá tải hạ tầng với 44 cửa cống xả thải hỗn hợp và áp lực khai thác ven bờ chiếm tới 68,2% sản lượng hải sản.
  • Đóng góp hệ thống giải pháp chính sách công có tính khả thi cao, gắn liền với tiến trình chuyển đổi cơ cấu tàu cá và bảo tồn nghiêm ngặt 58 ha rạn san hô Sơn Trà.
  • Thiết lập lộ trình hành động phân kỳ cụ thể đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, hỗ trợ trực tiếp cho mục tiêu xây dựng thương hiệu đô thị sinh thái Đà Nẵng.
  • Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cần nhanh chóng ứng dụng các khuyến nghị của luận văn vào thực tiễn quản lý tổng hợp vùng bờ để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững.