phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu 3 chương. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chính sách bảo vệ môi trường (BVMT) biển. Thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà Nẵng. Một số quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển của Thành phố Đà Nẵng.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG BIỂN 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo vệ môi trƣờng biển 1. Một số khái niệm cơ bản Khái niệm về môi trường biển: Môi trường biển được định nghĩa trên nhiều phương diện khác nhau, nếu xét về phương diện phạm vi địa lý, môi trường biển là toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả những gì có trong đó. Theo Điều 1, khoản 4 Công ước của Liên hợp quốc tế Luật biển năm 1982, môi trường biển được hiểu bao gồm các tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái biển và chất lượng nước biển, cảnh quan biển [12].
Năm 1992, tại Hội nghị thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường họp tại Rio De Janeiro (Brazill), là chương trình hành động phát triển bền vững. Ở chương 17 trong chương hành động 21 (Agenda 21) định nghĩa: “Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các biển, các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững”. Định nghĩa này được coi là định nghĩa chính thức về “môi trường biển”. Ô nhiễm môi trường biển: Pháp luật Việt Nam không có định nghĩa riêng về từng thành phần của môi trường mà Luật bảo vệ môi trường năm 2005 chỉ đưa ra định nghĩa: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [5].
Căn cứ vào định nghĩa ô nhiễm môi trường của Luật bảo vệ môi trường thì, ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi trạng thái lý – hoá – sinh học của môi trường biển khi thả vào môi trường biển những chất độc hại, vi phạm tiêu chu n môi trường biển những chất độc hại, vi phạm tiêu chu n môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Theo tác giả, nên định nghĩa: Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm từ các cửa sông, đất liền, trên không trung, đáy biển hoặc do những biến đổi bất thường của tự nhiên, từ đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây 8 nguy hiểm cho sức khoẻ con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển. Bảo vệ môi trường biển: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có một chương quy định về bảo vệ môi trường biển và hải đảo nhằm bảo đảm tính thống nhất và toàn diện, đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý tổng hợp, thống nhất nhà nước về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.Song trong các điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 không chỉ ra thế nào là bảo vệ môi trường biển. Từ đó, có thể định nghĩa: bảo vệ môi trường biển là những chủ trương, chính sách và hoạt động thực tiễn của Đảng, Nhà nước, nhân dân nhằm giữ gìn, khai thác, bảo vệ, cải tạo, phục hồi các yếu tố cấu thành môi trường biển gồm:nước biển, các sinh vật thủy, hải sản trong lòng biển, rêu rong tảo trong nước biển và các tài nguyên thiên nhiên có trong lòng biển.
Chính sách bảo vệ môi trường biển: Trước khi tìm hiểu khái niệm chính sách môi trường biển, cần làm rõ một số khái niệm sau: Chính sách: là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của Chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Chính sách bảo vệ môi trường: là những chủ trương, biện pháp mang tính chiến lược, thời đoạn, nhằm giải quyết một nhiệm vụ bảo vệ môi trường cụ thể nào đó, trong một giai đoạn nhất định. Chính sách bảo vệ môi trường biển: Chính sách bảo vệ môi trường biển là một loại chính sách công nhằm bảo vệ môi trường biển, là bộ phận của chính sách bảo vệ môi trường, tập trung vào các vấn đề môi trường biển và có liên quan chặt ch với các bộ phận khác của chính sách bảo vệ môi trường.TS Đ Phú Hải thì “Chính sách công là tập hợp các Quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”.
9 Như vậy, chính sách bảo vệ môi trường biển là một tập hợp các quy định, quyết định quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển nhằm lựa ch n các mục tiêu, giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề môi trường biển theo mục tiêu tổng thể đ xác định [17]. Tài nguyên biển và hải đảo bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc khối nước biển, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, vùng đất ven biển và quần đảo, đảo, bãi cạn lúc chìm lúc nổi, bãi ngầm thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Nhà nước ta có những chính sách về bảo vệ môi trường biển là bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cụ thể: Một là, nhà nước bảo đảm bảo vệ môi trường biển, tài nguyên biển và hải đảo được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hai là, nhà nước huy động các nguồn lực, khuyến khích đ y mạnh công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; ưu tiên cho vùng biển sâu, biển xa, hải đảo, vùng biển quốc tế liền kề và các tài nguyên mới có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Ba là, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và hải đảo; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp trong việc kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường biển và hải đảo, biến đổi khí hậu, nước biển dâng; quản lý chặt ch hoạt động nhận chìm ở biển. ốn là, đầu tư nâng cao năng lực quan trắc, giám sát, dự báo về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; thiết lập hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tổng hợp, đồng bộ về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo phục vụ phát triển kinh tế biển, quốc phòng, an ninh. Năm là, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện chính sách bảo vệ môi trường biển Thứ nhất, yếu tố tự nhiên: - Các vi sinh vật gây hại: các loại vi sinh vật biển, vi tảo biển gây hại cho biển gia tăng về số lượng, tham gia vào hiện tượng thuỷ triều đỏ, làm suy giảm các sinh vật biển có lợi.
- Các hoạt động địa chất như: núi lửa dưới lòng đất, bão, các cơn địa chấn, song thần…làm chết hàng loạt vi sinh vật biển, xác của chúng không được xử lý đã gây ô nhiễm vùng biển đới bờ. Bên cạnh đó sự đứt gãy của vỏ trái đất làm rò rỉ những mỏ dầu ở đáy đại dương cũng đã góp phần gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường biển. - Không khí ô nhiễm: Các hoạt động tương tác biển - khí cũng kéo theo hiện tượng lắng đọng các chất gây ô nhiễm xuống biển. Loại này khó theo dõi và quản lý vì thường phát tán trên diện rộng.
Nồng độ CO2 được hoà tan vào trong nước biển tăng lên nhanh chóng cùng với nhiều chất gây nguy hại và bụi kim loại nặng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ trong khí quyển của trái đất do hiệu ứng nhà kính đã kéo theo sự dâng cao của mực nước biển và thay đổi môi trường sinh thái biển. Thứ hai, yếu tố con người - Dân số gia tăng, nghèo đói: Biển và vùng bờ thường là nơi rất giàu có và đa dạng các loại hình tài nguyên, cũng như ở đây chứa đựng tiềm năng to lớn để phát triển nền kinh tế biển đa dạng. Bởi vậy nơi đây rất sôi động các hoạt động phát triển kinh tế như dịch vụ, thương mại của con người có trên 50% số đô thị lớn, gần 60% dân số tính theo đơn vị cấp tỉnh, phần lớn các khu công công nghiệp và khu chế xuất, các vùng nuôi thuỷ sản, các hoạt động cảng biển - hàng hải và du lịch s được xây dựng đến năm 2020 [21].
- Tỷ lệ gia tăng dân số ở vùng này cũng thường cao đột biến, cao hơn trung bình cả nước. Chính vì hoạt động kinh tế phát triển nên sự gia tăng di dân tự do, tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên thiên nhiên và hình thành thói quen tiêu thụ tài nguyên lãng phí. Kết quả, gây sức ép lớn đến môi trường biển, khu dân cư ven biển, 11 làm suy giảm, suy thoái tài nguyên biển ở những vùng ven bờ. Trong khi vùng biển gần bờ nước ta còn rất ít tôm c, thì cuộc sống của khoản “600.000 ngư dân và gia đình” họ vẫn cần có thức ăn hàng ngày và bản năng tồn tại vẫn buột họ khai thác nhiều tôm cá hơn nên nguồn lợi từ biển ngày càng cạn kiệt [21].