Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách an sinh xã hội Chương 2. Thực hiện chính sách an sinh xã hội từ thực tiễn thành phố Hội An Chương 3. Dự báo tình hình và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực thi chính chính sách an sinh xã hội ở thành phố Hội An trong thời gian tới.
11 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 1. Một số khái niệm 1. Chính sách Cho đến nay có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chính sách, mỗi khái niệm đều liên quan trực tiếp tới tính đặc thù của từng lĩnh vực, như: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa… Mỗi khái niệm giúp người chuẩn bị quyết định chính sách một hướng tư duy, dưới đây là một số định nghĩa khác nhau về chính sách: Khái niệm khoa học chính sách được Lasswell đề cập lần đầu tiên từ năm 1951, với khái niệm khoa học chính sách được xem như là một phương pháp giải quyết các vấn đề xã hội. Đến nay, khoa học chính sách đã có những phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những nội dung trọng tâm của khoa học xã hội.
Tác giả Nguyễn Duy Gia, trong Đề tài khoa học có nêu khái niệm về chính sách: “Mọi tổ chức, mọi cấp quản lý đều phải sử dụng các công cụ quản lý để tác động lên đối tượng quản lý theo một cách thức nào đó nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn”[26, tr. Tác giả Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt “chính sách” được hiểu là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra chính sách…”[49, tr. Các tác giả Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Lê Anh định nghĩa chính sách “là những chủ trương thích ứng với các đặc điểm và điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) của từng giai đoạn phát triển và nhằm vào việc bảo đảm cho sự vận hành đúng hướng và tích cực của cơ chế kinh tế” [71,tr. Tác giả Đinh Dũng Sỹ: “Chính sách được hiểu là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần hướng tới, cần đạt được.
Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chẳng qua chỉ là hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách”[60]. Tóm lại, một khái niệm dễ hiểu về chính sách theo nhà chính trị học Mỹ - 12 Theodore Lowi:“Chính sách là cái biểu hiện của chính trị”[64, tr. Chính sách công Thomas Dye cho rằng CSC là “tất cả những gì Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”[65, tr. William Jenkins đưa ra định nghĩa: “CSC là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”[43, tr.
Guy Peter cho rằng: “CSC là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”[28,tr. Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi CSC là nhà nước, đồng thời nhấn mạnh một khía cạnh quan trọng của CSC, đó là tác động của CSC đến đời sống của mọi người dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân hoặc một tổ chức cụ thể. Theo định nghĩa của Đặng Ngọc Lợi cho rằng: “Chính sách công là chính sách của Nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước”[40]. - Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” (Vũ Cao Đàm, Quản lý học đại cương, 1996).
- Chính sách công có thể được hiểu là tổng thể chương trình hành động của Nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, ổn định. An sinh xã hội Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế, ASXH cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới khác nhau. Theo Liên hiệp quốc, ASXH tiếp cận trên quyền của người dân (Điều 25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): “…Mọi 13 người dân và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế (bao gồm cả thai sản), dịch vụ xã hội thiết yếu và có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già … hoặc các trường hợp bất khả kháng khác …”[37]. Theo cuốn“Cẩm nam an sinh xã hội”của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: “ASXH là một sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong.
Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em”[63]. - Theo Điều 22 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền phát biểu rằng: ASXH là mọi người, như một thành viên của xã hội, có quyền an sinh xã hội và được quyền thực hiện, thông qua nỗ lực quốc gia và hợp tác quốc tế, phù hợp với tổ chức và các nguồn lực của mỗi quốc gia, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa không thể thiếu cho nhân phẩm của mình và sự phát triển tự do nhân cách của mình [69]. Ở Việt Nam, mặc dù lĩnh vực ASXH còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này. Theo tác giả Nguyễn Văn Chiêu: “ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực phát triển con người và xã hội.
ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách”[8]. Tác giả Phạm Xuân Nam lại cho rằng để thấy hết được bản chất của ASXH, chúng ta cần phải tiếp cận theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này: Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình; được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ pháp luật; được học tập, có việc làm, có nhà ở; được bảo đảm thu nhập để thỏa mản những nhu cầu thiết yếu khi gặp rủi ro, tai nạn, tuổi già đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội. Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện 14 pháp công cộng nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm thu nhập, gây ra bởi thiên tai, đau ốm, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp y tế cho các gia đình có con nhỏ, cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi … [45, tr. Tóm lại, “An sinh xã hội là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội/ trợ giúp xã hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định hoặc tư nhân) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rũi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội” theo cuốn Thuật ngữ An sinh xã hội, của Viện Khoa học Lao động và xã hội (ILSSA)[12].
Chính sách an sinh xã hội Trong cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới năm 2020, tác giả Vũ Văn Phúc cho rằng: “Chính sách ASXH là một chính sách xã hội cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống cho các thành viên trong xã hội”[57,tr. Tác giả Nguyễn Văn Chiêu, trong cuốn Chính sách an sinh xã hội và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam cho rằng: “Chính sách ASXH là những biện pháp bảo vệ của nhà nước nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro cho các thành viên của mình khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì nguyên nhân khách quan khác thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi xã hội và trợ giúp xã hội”[9, tr. Tuy nhiên, chính sách ASXH không chỉ là sự bảo vệ, sự giúp đỡ mà còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với một bộ phận dân cư. Chính vì vậy, chính sách ASXH có vị trí đặc biệt quan trọng trong chính sách xã hội nói riêng và trong hệ thống chính sách bảo đảm xã hội nói chung.
Chính sách ASXH là phương tiện, công cụ nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro đối với các thành viên trong xã hội. Chính sách ASXH được ban hành là thực hiện 15 nghĩa vụ công dân và công bằng xã hội chứ không phải là sự “đền bù”, bởi lẽ không ai mong muốn gặp phải những cản trở, khó khăn trong cuộc sống.