Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG VÀ TRUYỀN THÔNG TRONG GIÁO DỤC 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRUYỀN THÔNG 1. Khái niệm truyền thông Theo quan điểm truyền thống thì truyền thông là quá trình truyền đạt thông tin từ người này đến người khác một cách trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện, thiết bị thông tin. [12] Theo Theodorson, truyền thông là sự truyền tải thông tin, ý tưởng, thái độ hoặc cảm xúc từ một người hoặc một nhóm người đến một người hoặc một nhóm người chủ yếu thông qua những biểu tượng.
Theo SRA Sousebook, truyền thông là quá trình mà ở đó một nguồn phát tin gởi thông điệp đến người nhận thông qua kênh thông tin nhằm tạo ra phản ứng từ người nhận theo chủ định của nguồn gởi. Quá trình truyền thông Quá trình truyền thông là quá trình thiết lập sự thông hiểu giữa người gửi và người nhận thông điệp. Để thành công trong truyền thông phải hiểu rõ quá trình truyền thông, các yếu tố của quá trình truyền thông, hiểu ý nghĩa của những hình ảnh, từ ngữ và biết chúng có ảnh hưởng như thế nào đối với quá trình giải thích và hiểu thông điệp của người nhận Phương tiện Người gởi Mã hóa truyền thông Giải mã Người nhận Thông điệp Nhiễu Phản hồi Đáp ứng Hình 1.1: Mô hình quá trình truyền thông (Nguồn:[4]) Luan van 4 Có 9 yếu tố trong quá trình truyền thông: [6, tr. 58] + Hai yếu tố chính: người gởi và người nhận.
+ Hai công cụ truyền thông: thông điệp và phương tiện truyền thông. + Bốn chức năng truyền thông: mã hóa, giải mã, đáp ứng, phản hồi + Yếu tố khác: nhiễu. - Người gởi/ nguồn phát (Sender/Sourse) Người gởi hay nguồn phát là cá nhân hay tổ chức có thông tin muốn chia sẻ, phân phát thông tin của mình tới cá nhân hay tổ chức khác. - Mã hóa (Encoding) Mã hóa là chọn lựa những từ ngữ, biểu tượng, hình ảnh…để trình bày thông điệp, tượng trưng hóa các ý tưởng hay thông tin.
Người gởi phải mã hóa thông điệp sao cho đối tượng nhận hiểu được thông điệp, nghĩa là sử dụng các từ ngữ, biểu tượng phù hợp với đối tượng và đối tượng cảm thấy quen thuộc. Nhiều công ty được nhận dạng trên khắp thế giới nhờ các biểu tượng của mình như: Nike, Adidas, Mercedes… - Thông điệp (Message) Quá trình mã hóa tạo ra thông điệp chứa đựng thông tin có ý nghĩa mà người gởi/nguồn phát muốn chuyển tải. Thông điệp này có thể được diễn tả bằng lời hay không phải bằng lời, hình ảnh, chữ viết hay có thể biểu tượng. Thông điệp cần phải được xem xét cẩn thận cho phù hợp với kênh phát khác nhau.
Thông điệp phát trên radio sẽ khác trên tivi, khác trên pano hay báo. - Phương tiện truyền thông (Media) Phương tiện bao gồm các kênh truyền thông qua đó thông điệp được truyền từ người gởi/nguồn đến người nhận. Có hai loại kênh truyền thông: trực tiếp và gián tiếp - Người nhận (Receive) Người nhận là người mà nguồn phát/ người gởi muốn chia sẻ, phân phát các ý tưởng hay thông tin tới. Người nhận thông thường là khách hàng mục tiêu, những người nghe, đọc, nhìn thấy thông điệp và giải mã thông điệp.
Luan van 5 - Giải mã (Decoding) Giải mã là quá trình mà người nhận quy ý nghĩa cho các thông điệp do người gởi/ nguồn truyền đến. Quá trình này bị ảnh hưởng mạnh bởi kinh nghiệm, nhận thức, thái độ của người nhận. Để truyền thông có hiệu quả, việc giải mã của người nhận phải phù hợp với công đoạn mã hóa của nguồn phát/ người gởi. Tức là người nhận phải nhận đúng những gì mà người gởi/ nguồn phát muốn truyền thông.
Người gởi/ nguồn phát càng biết nhiều về đối tượng nhận, càng hiểu và thông cảm về nhu cầu của họ thì truyền thông càng hiệu quả. - Nhiễu (Noise) Trong suốt quá trình truyền thông, thông điệp còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố không mong đợi, nó có thể bóp méo thông điệp hay cản trở người nhận thông điệp. Những bóp méo hay cản trở được gọi là nhiễu. Nhiễu có thể xảy ra do nhiều tác nhân, có thể do kinh nghiệm và hiểu biết của cả hai phía người gởi/ nguồn phát và người nhận không giống nhau.
Thiếu những điểm tương đồng về hiểu biết và kinh nghiệm sẽ làm cho việc giải mã thông điệp đem lại kết quả không như ý của người gởi/ nguồn phát. - Đáp ứng (Response) Đáp ứng là tập hợp những phản ứng của người nhận sau khi thấy, nghe hoặc đọc thông điệp. Đáp ứng rất đa dạng, có thể là một hoạt động không thấy được như lưu giữ thông tin trong trí nhớ, có thể là một hành động như hỏi thăm các chi tiết về sản phẩm, thậm chí là đi mua sản phẩm được quảng cáo. - Phản hồi (Feedback) Phản hồi là sự đáp ứng của người nhận sau khi thấy, nghe hoặc đọc thông điệp được thông tin trở lại cho người gởi.
Với các thông tin phản hồi người làm quảng cáo có thể phân tích lý do thành công hay thất bại của quá trình truyền thông và tiến hành điều chỉnh. Truyền thông marketing 1. Khái niệm truyền thông marketing Truyền thông marketing (Marketing Communications - MC) là các phương tiện doanh nghiệp sử dụng để thông tin, thuyết phục và gợi nhớ người tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp về sản phẩm và thương mà họ bán. Truyền thông marketing đại diện cho “tiếng nói” của thương hiệu, là phương cách để thiết lập sự đối thoại và xây dựng các quan hệ với người tiêu dùng.
8] Theo quan điểm xã hội, một thị trường sẽ không vận hành hiệu quả nếu không có thông tin. Vì vậy, trên thị trường các khách hàng ngày càng nhận được càng nhiều thông điệp hơn từ phía các doanh nghiệp khác nhau, chính vì lẻ đó các nhà quản lý phải đối mặt với một thách thức mới: đưa ra một thông điệp phù hợp tại mỗi điểm tiếp xúc khách hàng. Mặt khác, với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của công nghệ thông tin, những nhà marketing ngày càng có nhiều công cụ để quảng bá thương hiệu của mình hiệu quả hơn về mặt marketing cũng như về mặt tài chính. Vì vậy, các nhà marketing bắt đầu quan tâm đến sự phối hợp các công cụ truyền thông marketing khác nhau và các hoạt động marketing khác nhau để truyền thông marketing đến khách hàng của họ.
Từ đó khái niệm truyền thông marketing tích hợp ra đời. Truyền thông marketing tích hợp (Integrated Marketing Communications – IMC) là sự hoạch định truyền thông marketing nhằm xác định giá trị gia tăng của một kế hoạch tổng hợp, đánh giá vai trò chiến lược của các thành phần khác nhau trong truyền thông như: quảng cáo, khuyến mại, marketing trực tiếp, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân và sự kết hợp các thành phần này để tạo ra một sự truyền thông rõ ràng, đều đặn, hiệu quả tối đa. 6] Mỗi công cụ truyền thông có những chức năng và ưu nhược điểm riêng của chúng, IMC làm gia tăng hiệu quả của chương trình truyền thông, giảm lãng phí và tạo lợi thế cạnh tranh cho công ty. Vì vậy, nhà marketing phải biết phối hợp các công cụ cho phù hợp với từng mục tiêu truyền tin cụ thể.
Mục tiêu của truyền thông marketing - Xây dựng sự nhận thức: là làm cho khách hàng tiềm năng nhận biết sự có mặt của doanh nghiệp và thương hiệu sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp trên thị trường, nhờ đó, khách hàng ngay lập tức nhớ thương hiệu, sản phẩm của doanh nghiệp khi họ có nhu cầu về sản phẩm mà doanh nghiệp cung cấp. Mục tiêu này thường áp dụng cho các chiến lược truyền thông giới thiệu sản phẩm mới. - Cung cấp kiến thức: mục tiêu này liên quan đến việc cung cấp thông tin về các đặc tính của sản phẩm hay dịch vụ. - Tạo ấn tượng tích cực: khách hàng không mua đặc tính sản phẩm, mà mua lợi ích - những thứ thoả mãn cho nhu cầu, mong muốn của họ, những thứ làm cho cuộc sống của họ tốt hơn, giải quyết được một vấn đề rắc rối hay tiết kiệm tiền bạc cho họ.
- Đạt được vị thế thuận lợi trong tâm trí khách hàng. - Tạo ra sự quan tâm mua hàng. - Thực hiện giao dịch. Các công cụ truyền thông marketing Các doanh nghiệp có thể tổ chức hệ thống truyền thông của mình dựa trên các công cụ truyền thông khác nhau, chúng ta có thể chia các công cụ truyền thông thành 5 nhóm chính, đó là: quảng cáo (Advertising), khuyến mại (Sales promotion), quan hệ công chúng (Public relation), marketing trực tiếp (Direct marketing), bán hàng cá nhân (Personal selling) Bán hàng trực tiếp Quan hệ Quảng Hệ thống công cáo truyền chúng thông Marketing Khuyến Marketing mãi trực tiếp Hình 1.2: Mô hình 5 công cụ truyền thông marketing (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Luan van 8 Quảng cáo Quảng cáo: là bất kỳ hình thức giới thiệu gián tiếp nhằm khuyếch trương các ý tưởng, sản phẩm hoặc dịch vụ, được người bảo trợ nhất định trả tiền.
280] Quảng cáo được xem là một công cụ hiệu quả về chi phí để truyền thông trên diện rộng nhưng hiệu quả của nó lại thấp hơn so với các công cụ há nếu xét chi phí cho một lần thông tin đến khách hàng. Quảng cáo có thể tạo ấn tượng, thu hút bằng biểu tượng cho nhãn hiệu hay doanh nghiệp [8]. Một chương trình quảng cáo hấp dẫn có thể giúp doanh nghiệp tăng doanh số, tạo lực đẩy góp phần vào sự thành công chung của một kế hoạch truyền thông. Quảng cáo là một công cụ truyền thông gián tiếp, tức là thông điệp quảng cáo được truyền đi thông qua một phương tiện thông đại chúng.
Hiện nay, các doanh nghiệp có thể lựa chọn rất nhiều phương tiện quảng cáo như : truyền hình, truyền thanh, báo, tạp chí, internet, pano, phương tiện vận chuyển, pano, appích… Sau đây là một số đặc điểm của quảng cáo: [4, tr 273 – 274] - Tính đại chúng. Quảng cáo là một hình thức truyền thông mang tính đại chúng rất cao. Bản chất đại chúng của nó khẳng định tính chính thức của sản phẩm và cũng tạo nên một tiêu chuẩn cho sản phẩm.Vì nhiều người nhận được thông điệp như nhau nên người mua biết rằng mọi người cũng sẽ hiểu được động cơ mua sản phẩm đó của họ. - Tính sâu rộng.
Quảng cáo là một phương tiện truyền thông rất sâu rộng cho phép người bán lặp lại một thông điệp nhiều lần. Nó cũng cho phép người mua nhận và so sánh thông điệp của các đối thủ cạnh tranh. - Tính biểu cảm. Quảng cáo tạo ra những cơ hội để giới thiệu doanh nghiệp và sản phẩm của nó bằng cách sử dụng khôn khéo hình ảnh, âm thanh và màu sắc.
Quảng cáo không có tính ép buộc như những trường hợp đại diện bán hàng của doanh nghiệp.