lời mở đầu và kết luận gồm 03 phần: Phần 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán NVL Phần 2: Thực trạng kế toan NVL tại công ty TNHH Xa Lộ Thông tin Phần 3: Một sèý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện kế toán NVL tại công ty TNHH Xa Lộ Thông Tin SV: Lê Thị Ngân 3 Líp: 2CHK5 Trường Cao đẳng KTKT Thương mại Khoa Kế toán PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NVL I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA NVL TRONG SXKD 1-Khái niệm NVL Trong các doanh nghiệp sản xuất NVL là những đối tượng lao động, thể hiện dưới dạng vật hoá là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm. Trong quá trình tham gia vào sản xuất kinh doanh, NVL chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định, NVL bị tiêu hao toàn bộ và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu mà giá trị của NVL được chuyển toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mới làm ra. 2- Đặc điểm và vai trò của NVL trong quá trình sản xuất Trong các Doanh nghiệp sản xuất (công nghiệp, xây dựng cơ bản) vật liệu là một bộ phận của hàng tồn kho thuộc TSCĐ của Doanh nghiệp.
Mặt khác, nó còn là những yếu tố không thể thiếu, là cơ sở vật chất và điều kiện để hình thành nên sản phẩm. Chi phí về các loại vật liệu thường chiếm một tỉ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các Doanh nghiệp sản xuất. Do đó vật liệu không chỉ quyết định đến mặt số lượng của sản phẩm, mà nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm tạo ra. NVL có đảm bảo đúng quy cách, chủng loại, sự đa dạng thì sản phẩm sản xuất mới đạt được yêu cầu và phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của Xã hội.
Nh ta đã biết, trong quá trình sản xuất vật liệu bị tiêu hao toàn bộ không giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó chuyển một lần toàn bộ vào giá trị sản phẩm mới tạo ra. Do đó, tăng cường quản lý công tác kế toán SV: Lê Thị Ngân 4 Líp: 2CHK5 Trường Cao đẳng KTKT Thương mại Khoa Kế toán NVL đảm bảo việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nhằm hạ thấp chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho Doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng. Việc quản lý vật liệu phải bao gồm các mặt nh: số lượng cung cấp, chất lượng chủng loại và giá trị. Bởi vậy, công tác kế toán NVL là điều kiện không thể thiếu được trong toàn bộ công tác quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước nhằm cung cấp kịp thời đầy đủ và đồng bộ những vật liệu cần thiết cho sản xuất, kiểm tra được các định mức dự trữ, tiết kiệm vật liệu trong sản xuất, ngăn ngừa và hạn chế mất mát, hư hỏng, lãng phí trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất.
Đặc biệt là cung cấp thông tin cho các bộ phận kế toán nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ kế toán quản trị. 3- Yêu cầu quản lý NVL trong sản xuất kinh doanh. Vật liệu, hàng hoá, thành phẩm là một bộ phận tài sản ngắn hạn, thuộc loại hàng hóa tồn kho của Doanh nghiệp. - Vật liệu trong Doanh nghiệp, gồm: vật liệu trong kho và đã mua đang đi đường.
- Hàng hoá trong Doanh nghiệp, gồm: Hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán, hàng hoá kho bảo thuế. - Thành phâm trong Doanh nghiệp, gồm: thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán. Vật liệu, hàng hoá, thành phẩm ở các Doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, là nguồn lực chue yếu để đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải xây dựng định mức tồn kho cho những mặt hàng đó nhằm đảo bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được bình thường và có hiệu quả. Việc quản lý vật liệu, hàng hoá, thành phẩm cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Đảm bảo định mức tồn kho đối với từng chủng loại hàng, mặt hàng chủ yếu, không để quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn hoặc ảnh hưởng xấu.
SV: Lê Thị Ngân 5 Líp: 2CHK5 Trường Cao đẳng KTKT Thương mại Khoa Kế toán - Quản lý chặt chẽ vật liệu, hàng hoá, thành phẩm cả về mặt giá trị và hiện vật theo từng địa điểm để hàng, theo từng người phụ trách vật chất được giao trách nhiệm quản lý trực tiếp ở kho hàng, quầy hàng. - Giám sát, kiểm tra việc bảo quản và sử dụng vật liệu, hàng hoá, thành phẩm; kiểm tra việc tuân thủ các quy định về định mức tiêu hao trong quá trình sử dụng nguyên vật liệu vào sản xuất; định mức hao hụt hàng hoá trong quá trình mua, định mức tồn kho của vật liệu, hàng hoá, thành phẩm. - Xử lý ngay những hàng kém, mất phẩm chất, lạc hậu kỹ thuật, lỗi mốt, hàng ứ đọng, hàng chậm luân chuyển để thu hồi vốn. - Cuối kỳ kế toán, khi giá gốc vật liệu, hàng hoá, thành phẩm cao hơn giá trị thuần có thể thu hồi được thì Doanh nghiệp sẽ phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
PHÂN LOẠI VÀ ĐÁNH GIÁ NVL 1- Phân loại NVL Trong các doanh nghiệp sản xuất vật liệu bao gồm rất nhiều loại với các nội dung kinh tế, công dụng và tính năng lý – hoá học khác nhau và thường xuyên có sự biến động tăng giảm trong quá trình sản xuất kinh doanh. Để thuận lợi cho quá trình quản lý một cách chặt chẽ và tổ chức hạch toán tới chi tiết từng loại vật liệu đảm bảo hiệu quả sử dụng trong sản xuất thì Doanh nghiệp cần phải tiến hành phân loại vật liệu. Phân loại vật liệu là quá trình sắp xếp vật liệu theo từng loại, từng nhóm trên một căn cứ nhất định nhưng tuỳ thuộc vào từng loạI hình cụ thể của từng Doanh nghiệp theo từng loại hình sản xuất, theo nội dung kinh tế và công dụng của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hiện nay các Doanh nghiệp thường căn cứ vào nội dung kinh tế và công dụng của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh để phân chia vật liệu thành các loại sau: * Nguyên liệu, vật liệu chính: là đối tượng lao động chủ yếu của Công ty và là cơ sở vật chất chủ yếu cấu thành nên thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm nh: xi măng, sắt thép trong xây dựng cơ bản, vải trong may mặc.
NVL chính dùng vào sản xuất sản phẩm hình thành nên chi phí NVL trực tiếp. SV: Lê Thị Ngân 6 Líp: 2CHK5 Trường Cao đẳng KTKT Thương mại Khoa Kế toán * Vật liệu phụ: cũng là đối tượng lao động, chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất được dùng với vật liệu chính làm tăng chất lượng sản phẩm, như hình dáng màu sắc hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công việc quản lý sản xuất. Vật liệu phụ bao gồm: thuốc nhuộm, thuốc tẩy, sơn các loại, các loại phụ gia bêtông, dầu mỡ bôi trơn, xăng chạy máy. * Nhiên liệu: là những vật liệu được sử dụng để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, kinh doanh nh phương tiện vận tải, máy móc thiết bị hoạt động trong quá trình sản xuất.
Nhiên liệu bao gồm các loại nh: xăng dầu chạy máy, than củi, khí ga. * Phụ tùng thay thế: là các chi tiết phụ tùng, sử dụng để thay thế sửa chữa các loại máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải. * Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: bao gồm các loại vật liệu và thiết bị, phương tiện lắp đặt vào các công trình xây dựng cơ bản của Doanh nghiệp xây lắp. * Vật liệu khác: là các loại vật liệu còn được xét vào các loại kể trên nh phế liệu thu hồi từ thanh lý tài sản cố định, từ sản xuất kinh doanh nh bao bì, vật đóng gói… * Phế liệu: là những loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất, thanh lý tài sản có thể sử dụng hay bán ra ngoài.( phôi bào, vải vụn…) Vì vậy căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng NVL thì toàn bộ NVL của Doanh nghiệp được chia thành NVL dùng trực tiếp vào sản xuất kinh doanh và NVL dùng vào các nhu cầu khác.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết của từng Doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng quy cách từng loại một cách chi tiết hơn. 2- Đánh giá NVL Đánh giá NVL là xác định giá trị của chúng theo một nguyên tắc nhất định. Theo quy định hiện hành, kế toán nhập xuất tồn kho NVL phải phản ánh SV: Lê Thị Ngân 7 Líp: 2CHK5 Trường Cao đẳng KTKT Thương mại Khoa Kế toán theo giá thực tế, khi xuất kho cũng phải xác định theo giá thực tế xuất kho theo đúng phương pháp quy định. Tuy nhiên trong không Ýt Doanh nghiệp để đơn giản và giảm bớt khối lượng ghi chép, tính toán hàng ngày có thể sử dụng giá hạch toán để hạch toán tình hình nhập xuất vật liệu.
Nh vậy, để đánh giá vật liệu các Doanh nghiệp thường dùng tiền để biểu hiện giá trị của chúng. Trong công tác hạch toán ở các đơn vị sản xuất thì vật liệu được đánh giá theo hai phương pháp chính: - Đánh giá vật liệu theo giá thực tế. - Đánh giá vật liệu theo giá hạch toán. Nguyên tắc tính giá.
Tính giá vật liệu, hàng hoá, thành phẩm là việc xác định trị giá của vật liệu, hàng hoá, thành phẩm ở tại những thời điểm nhất định và theonhững nguyên tắc quy định. * Nguyên tác tính giá: Tài sản của Doanh nghiệp nói chung và vật liệu, hàng hoá, thành phẩm ở doanh nghiệp nói riêng được ghi phản ánh trong sổ kế toán và trong báo cáo tài chính theo giá gốc của chúng, tức là theo trị giá vốn thực tế hoặc trị giá hợp lý (đối với vật liệu, hàng hoá, thành phẩm được biếu, tặng) tại thời điểm ghi nhận. Trị giá vốn thực tế của vật liệu, hàng hoá, thành phẩm phản ảnh ở tài khoản kế toán tổng hợp tại thời điểm ghi nhận nhập kho theo chi phí cấu thành giá quy định trong hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp hiện hành. Khi tính giá VL, HH, TP cần phải tuân thủ các nguyên tắc quy định trong Chuẩn mực Kế toán và Luật kế toán sau đây: * Nguyên tắc giá gốc: VL, HH, TP phải được đánh giá theo giá gốc.