CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MARKETING ĐỊA PHƯƠNG Nhiều quốc gia đã thành công trong việc phát triển kinh tế của quốc gia mình, tuy nhiên cũng không ít quốc gia mà ở đó việc phát triển kinh tế không được như ý muốn. Những khó khăn trong việc phát triển kinh tế của quốc gia này không phải là họ làm sai, nhưng do họ theo đuổi các chính sách phát triển không còn phù hợp trong nền kinh tế thế giới hiện nay nửa. Một điểm cần lưu ý là một số quốc gia đã vực được nền kinh tế của mình lên như Nhật Bản, Hàn Quốc… là những quốc gia không có những lợi thế so sánh về yếu tố sản xuất cơ bản như tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ. Sự tin tưởng quá mức vào lý thuyết lợi thế so sánh do Richart đưa ra từ đầu thế kỷ 19 có thể là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên sự thất bại trong việc phát triển kinh tế địa phương.
Những thách thức trong cạnh tranh trên lĩnh vực toàn cầu đòi hỏi các quốc gia, thành phố, tỉnh thay đổi cách nhìn của họ.Lợi thế so sánh của các yếu tố sản xuất cơ bản không còn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế nửa. Lý do là tất cả đều mang tính tương đối. Khi nền kinh tế thế giới ngày càng có xu hướng toàn cầu hóa, thì lợi thế trong việc xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên hay lao động rẻ ngày càng mờ nhạt. Một cách nhìn về địa phương mà nhiều nhà hoạch định chính sách đều đồng ý đó là việc xem một địa phương như là một thương hiệu gọi là thương hiệu địa phương, để Marketing nó.
Chương này có mục đích trình bày những lý thuyết cơ bản về Marketing địa phương để vận dụng cho việc phân tích và xây dựng chiến lược Marketing địa phương trình bày ở các chương tiếp theo.1 KHÁI NIỆM: Vai trò của Marketing đối với việc phát triển kinh tế của các quốc gia đã được các nhà quản trị và marketing đề cập đến từ nhiều thập niên qua. Nhiều quốc gia tuy không có nguồn tài nguyên và nhân lực dồi dào nhưng nhờ có chiến lượng và chương trình marketing của mình hiệu quả đã biến địa phương của mình thành những nơi phát triển bền vững. Các nước NICs ở châu Á như Hàn Quốc, Singapo, Hong Kong… là các ví dụ điển hình. Các quan điểm về marketing thường tập trung vào chức năng “ vi mô” hơn là chức năng “vĩ mô” của nó.
Đứng về mặt vĩ mô, các nhà marketing tập trung vào vai trò của marketing phát triển kinh tế của một quốc gia, một địa phương. Tuy nhiên, khi đề cập đến marketing thì thương hiệu là đơn vị cơ bản để marketing. Một thương hiệu có thể là một sản phẩm hữu hình, một dịch vụ hay một thành phố, một quốc gia. Như vậy, về mặt marketing, chúng ta có thể xem một địa phương hay một quốc gia có thể là một thương hiệu, gọi là “ thương hiệu địa phương” để phân biệt thương hiệu sản phẩm hay dịch vụ của các đơn vị kinh doanh.
Với quan điểm này, xét về nguyên lý marketing thì marketing một thương hiệu địa phương và marketing thương hiệu sản phẩm hữu hình hay dịch vụ không có gì khác nhau. Dĩ nhiên, về mặt marketing cụ thể, thì chương trình marketing thương hiệu địa phương cũng có những đặc trưng riêng của nó. Điều này cũng tương tự như chương trình marketing cho thương hiệu sản phẩm hữu hình hay thương hiệu dịch vụ, hay là chương trình marketing cho hàng công nghiệp hay hàng tiêu dùng. Sản phẩm hữu hình và dịch vụ cũng có đặc thù riêng, sản phẩm công nghiệp và sản phẩm tiêu dung cũng có những đặc thù riêng, cho nên các chương trình marketing cụ thể của chúng phải phù hợp cho từng trường hợp cụ thể.
Vấn đề thứ hai, quan điểm marketing địa phương cho rằng marketing địa phương khác biệt marketing sản phẩm và dịch vụ đó là nhà marketing. Đối với thương hiệu là sản phẩm hữu hình hay dịch vụ, nhà marketing là bộ phận marketing của doanh nghiệp. Với thương hiệu địa phương thì nhà tiếp thị bao gồm nhiều thành phần khác nhau như chính quyền địa phương, cộng đồng kinh doanh hay cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, cũng chú ý rằng, theo quan điểm hiện đại thì marketing không phải là chức năng của bộ phận marketing mà là của mọi thành viên trong công ty.
Như vậy, chức năng marketing của một địa phương là công việc của mọi thành viên trong địa phương đó. Như vậy, về mặt nguyên tắc thì không có sự khác biệt giữa nhà marketing thương hiệu địa phương và nhà marketing thương hiệu sản phẩm dịch vụ. Marketing địa phương liên quan đến 3 nhóm chính. Thứ nhất là khách hàng của một địa phương.
Cũng như marketing thương hiệu sản phẩm hay dịch vụ, nhà marketing địa phương cần phải xác định thị trường hay khách hàng mục tiêu của địa phương mình. Khách hàng mục tiêu của một địa phương có thể bao gồm các nhà đầu tư, các nhà sản xuất kinh doanh, các nhà xuất khẩu, các tổng hành dinh của các công ty, khách du lịch, hội nghị và các chuyên viên. Thứ hai, là các yếu tố của địa phương để marketing cho khách hàng. Các yếu tố marketing này có thể là cơ sơ hạ tầng, con người, hình tượng và chất lượng sống và các đặc trưng hấp dẫn của địa phương.
Cuối cùng là các nhà hoạch định marketing địa phương. Nhóm các nhà hoạch định marketing địa phương bao gồm chính quyền địa phương, cộng đồng kinh doanh, và công dân kinh doanh tại địa phương đó. Những thành phần này tham gia vào việc hoạch định kế hoạch marketing cho một địa phương.1 Thị trường mục tiêu của một địa phương: Thị trường mục tiêu của một địa phương chia thành 4 nhóm thị trường chủ yếu, đó là (1) các nhà đầu tư và sản xuất kinh doanh, (2) khách du lịch, hội nghị (3) người lao động và (4) các nhà xuất khẩu. Thị trường bao gồm các nhà đầu tư, kinh doanh có lẽ là thị trường được nhiều địa phương chú ý đến nhiều nhất, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.
Đây cũng là thị trường ưu tiên hàng đầu của các nước đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính. Các địa phương tìm cách kêu gọi đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp tiếp nước ngoài (FDI). Lý do là đầu tư nước ngoài tạo ra nhiều ngành nghề mới, tạo công ăn việc làm, giúp phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế, tạo thu nhập cho người lao động, và thu nhập cho ngân sách. Có nhiều cách thức mà các địa phương sử dụng để thu hút đầu tư về cho địa phương của mình như tổ chức các hội thảo về đầu tư, thành lập các tổ chức xúc tiến đầu tư, xây dựng và quảng bá các chính sách, chương trình khuyến khích đầu tư như miễn thuế, dịch vụ miến phí… Các tổ chức điển hình ở dạng này ở Châu Á có thể kể đến như tổ chức phát triển thương mại Hong Kong, Trung tâm xúc tiến đầu tư Cebu, Philippin… Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng, các quốc gia, địa phương đều có những chính sách thu hút đầu tư khác nhau tùy thuộc vào những mục tiêu ưu tiên của địa phương đó.
Có địa phương thu hút đầu tư vào ngành này nhưng lại hạn chế ngành nghề khác. Ví dụ, nếu địa phương muốn giải quyết nạn thất nghiệp gia tăng thì chính sách thu hút đầu tư vào các ngành nghề cần lực lượng lao động cao như ngành dệt, may. Nhưng nếu địa phương cần phát triển công nghệ hiện đại như công nghệ tin học, thì lại kích thích các ngành thuộc lĩnh vực này… Khách du lịch là thị trường mục tiêu thứ hai của các nhà marketing địa phương. Thị trường khách du lịch có thể chia thành 2 nhóm chính, nhóm khách kinh doanh và không kinh doanh.
Nhóm khách kinh doanh gồm những người đến một địa phương nhằm mục đích kinh doanh như tham gia các hội thảo kinh doanh, xem xét các vị trí đầu tư… Khách không kinh doanh bao gồm các khách du lịch thuần túy, thăm thân nhân, bạn bè… Những người này đều mang lại lợi ích cho địa phương như thu nhập, công ăn việc làm, thuế, thông qua các chi tiêu của họ trong quá trình lưu lại địa phương đó. Để làm tăng lợi ích này, các nhà marketing địa phương luôn tìm cách hấp dẫn họ để có thể chi tiêu nhiều hơn và kéo dài thời gian lưu trú của họ, cũng như kích thích nhiều du khách đến tham quan địa phương của mình. Chính vì vậy, các địa phương đều có chiến lược thu hút khách du lịch, kinh doanh và không kinh doanh thông qua các văn phòng xúc tiến du lịch và văn phòng xúc tiến hội thảo kinh doanh, cũng như nhiều chương trình quảng bá khác. Tuy nhiên, chiến lược marketing thực hiện không thống nhất cho từng địa phương khác nhau mà nó phụ thuộc vào mục tiêu của từng địa phương.
Có những địa phương tập trung vào khách du lịch ngắn ngày, chi tiêu ít trong thời gian du lịch, nhưng với số lượng lớn. Có địa phương tập trung vào nhóm nhỏ khách du lịch nhưng thời gian lưu trú lâu, và chi tiêu lớn. Có địa phương chỉ tập trung vào những nhóm khách du lịch đặc biệt nào đó mà không khuyến khích một số nhóm khác. Ví dụ Hong Kong và Singapo rất thành công trong việc thu hút khách tham dự các hội nghị, hội chợ thông qua các phương tiên kiến trúc hiện đại.
Trung tâm quôc tế hội thảo và hội chợ Singapo (SICEC) và trung tâm hội thảo và hội chợ Hong Kong (HKCEC) là 2 nơi thu hút lượng khách này lớn nhất ở Châu Á là các ví dụ điển hình cho thị trường này. Chỉ tính từ tháng Giêng đến tháng 6-2002, SICEC đã tổ chức được 500 hội thảo với khoảng 1,8 triệu khách. Người lao động cũng là thị trường mục tiêu của các địa phương. Các địa phương tìm cách những người có những kỷ năng nào đó đến định cư tại địa phương mình.
Dĩ nhiên mỗi địa phương có thể tập trung vào những nhóm người định cư mới này khác nhau. Các địa phương thường có xu hướng kích thích một số nhóm người và ngăn cản một số nhóm người khác. Ví dụ những nhóm mà các địa phương thường quan tâm thu hút đến định cư tại địa phương mình là những người có những kỹ năng, nghề nghiệp mà địa phương mình cần. Cạnh tranh để có được những người lao động có kỹ năng không phải chỉ diễn ra trong các đơn vị sản xuất kinh doanh mà cho bất kỳ tổ chức nào, kể cả các địa phương.