phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm làm 3 chương: 12 z Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với việc phát triển kinh t ế. Chƣơng 2: Thực trạng thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2000 -2009 Chƣơng 3: Mục tiêu, định hướng và những giải pháp cơ bản tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn tới. 13 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1. Một số vấn đề lý luận về thu hút và sử dụng vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) 1.
Khái niệm, đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 1. Một số khái niệm + Khái niệm đầu tư: Có nhiều cách hiểu đầu tư, nhưng thông thường đầu tư được coi là "bỏ vốn" (tiền của, sức lao động, thời giờ…) vào một công cuộc; hoặc là việc "nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư" nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai. Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm, khái niệm, định nghĩa về đầu tư. Có thể điểm qua một số quan niệm tiêu biểu sau đây: - Đầu tư là việc sử dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực vốn lớn hơn.
Vốn đầu tư là phần tích luỹ xã hội của các ngành, các cơ sở sản xuất kinh doanh, là tiền tiết kiệm của nhân dân và huy động từ các nguồn khác được đưa vào tái sản xuất xã hội. Trên bình diện doanh nghiệp, đầu tư là việc di chuyển vốn vào hoạt động nào đó nhằm mục đích thu lại một khoản tiền lớn hơn. - Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên… trong cùng một thời gian tương đối dài nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế - xã hội. Đặc điểm của đầu tư là thời gian tương đối dài, những hoạt động kinh tế có thời gian dưới một năm không được gọi là đầu tư.
14 z - Theo Luật Đầu tư năm 2005 thì "đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư". Trong luận văn này, tác giả cho rằng: "Đầu tư là quá trình bỏ vốn (tiền, nguyên liệu, nhân lực, công nghệ, giá trị thương hiệu, bí quyết kinh doanh…) vào các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận". + Khái niệm đầu tư nước ngoài: Đầu tư nước ngoài là hình thức di chuyển vốn từ nước này sang nước khác nhằm mục đích kiếm lời. Đầu tư nước ngoài có một số đặc điểm khác với đầu tư nội địa.
Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài, điều này sẽ liên quan đến các quy định về thủ tục xuất nhập cảnh, về phong tục, tập quán, ngôn ngữ… Các yếu tố đầu tư được di chuyển ra khỏi biên giới, đặc điểm này liên quan đến các chính sách, pháp luật về hải quan và cước phí vận chuyển. Vốn đầu tư có thể là tiền tệ, vật tư hàng hoá, tài nguyên thiên nhiên nhưng được tính bằng ngoại tệ, vấn đề đó liên quan đến chính sách tài chính và tỉ giá hối đoái của các nước tham gia đầu tư. Quan niệm đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước theo Luật đầu tư 2005 của Việt Nam là: "Đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam". "Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư" (Điều 2 Luật Đầu tư 2005).
+ Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): "FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư) không phải nước mà 15 z doanh nghiệp đang hoạt động (được đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp". Từ những khái niệm trên, tác giả thống nhất với quan điểm "FDI là một loại hình đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư của một nền kinh tế đóng góp một số vốn hoặc tài sản đủ lớn vào một nền kinh tế khác để sở hữu hoặc điều hành, kiểm soát đối tượng họ bỏ vốn đầu tư nhằm mục đích lợi nhuận hoặc các lợi ích kinh tế khác". Dưới góc độ quản lý cũng như bản chất FDI đối lập với đầu tư gián tiếp nước ngoài; đồng thời FDI là đầu tư thuộc kênh tư nhân, khác hẳn với đầu tư tài trợ (ODA) của các tổ chức quốc tế hoặc của các chính phủ. + Khái niệm thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài: Nói đến thu hút và sử dụng đầu tư trực tiếp nước ngoài thực chất là đề cập đến các công cụ của Nhà nước đưa ra để ứng xử với tình hình đầu tư nước ngoài trong từng giai đoạn cụ thể, để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Qua nghiên cứu chính sách, công cụ của Nhà nước, các đối tác kinh tế biết được Nhà nước khuyến khích đầu tư vào những lĩnh vực công nghệ, khu vực và ngành kinh tế nào, những ưu đãi kèm theo khi đầu tư vào những ngành, khu vực, lĩnh vực mà Nhà nước ưu đãi. Trong thực tiễn, để tiến hành quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý đã tạo lập và sử dụng các công chức quản lý để truyền dẫn tác động của mình lên các đối tượng, khách thể quản lý. Chính nhờ các công chức quản lý mà Nhà nước truyền tải được các ý định và ý chí của mình lên mỗi con người, mỗi bộ phận trong hệ thống, trên toàn bộ các vùng, các khu vực, các ngành của nền kinh tế tuỳ theo hành trình phát triển cụ thể mà Nhà nước có những quyết sách phù hợp. Đối với các nước đang phát triển, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá là mục đích mang ý nghĩa sống còn, vì vậy cần rất nhiều vốn, đặc 16 z biệt là vốn FDI.
Tuy có nhiều nét riêng biệt, song những quyết sách về những vấn đề liên quan đến FDI của tất cả các nước đều thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại, được ban hành nhằm tăng cường kêu gọi nguồn vốn đầu tư nước ngoài (trong đó có FDI) để tận dụng hết các nguồn lực trong nước, phục vụ cho mục tiêu đã định theo quy hoạch tổng thể để phát triển kinh tế, đảm bảo sự phân bổ hợp lý về lực lượng sản xuất, sử dụng có hiệu quả nguồn lực quốc gia như tài nguyên, đất đai, lao động,… nhằm hoàn thành các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản, đồng thời còn là cầu nối quan trọng nối liền nền kinh tế quốc gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế. Như vậy có thể hiểu khái niệm thu hút và sử dụng FDI dưới dạng khái quát: "Thu hút và sử dụng FDI là hệ thống các quyết định mà Nhà nước áp dụng để điều chỉnh, định hướng, khuyến khích, tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc gia, nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội theo mục tiêu đã định". Đặc điểm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài + FDI là một dạng quan hệ kinh tế, có nhân tố nước ngoài (chủ đầu tư, vốn đầu tư và địa điểm đầu tư từ các quốc gia khác nhau). Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện sự khác biệt về quốc tịch hoặc về lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào quan hệ FDI mà còn thể hiện ở những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, FDI gắn liền với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các quốc gia trên thế giới.
Tài sản ở đây có thể bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Hoạt động FDI không chỉ là sự di chuyển vốn thuần tuý mà còn cả các hoạt động chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tư. 17 z Thứ hai, FDI được thực hiện thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới, mua lại từng phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp. Thứ ba, quyền quản lý doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư, theo đó, doanh nghiệp FDI sẽ là người chủ sở hữu hoàn toàn hoặc đồng chủ sở hữu với một tỷ lệ góp vốn nhất định, đủ mức khống chế và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp.
Tỷ lệ sở hữu vốn khống chế này do pháp luật của từng nước quy định. Thứ tư, FDI chủ yếu là hoạt động đầu tư của tư nhân với mục tiêu cơ bản là lợi nhuận. Hoạt động FDI diễn ra khi có thị trường đầu tư có khả năng tạo ra lợi nhuận cao, nghĩa là phải có chênh lệch về tỉ suất lợi nhuận và chi phí giữa nước đầu tư và tiếp nhận đầu tư. Đây là điểm khác biệt cơ bản để phân biệt hai hình thức FDI và ODA.
Nguồn vốn ODA chịu sự chi phối đáng kể bởi quan hệ chính trị giữa hai quốc gia, và phần lớn ODA là nguồn vốn vay ưu đãi nên nếu không được sử dụng hiệu quả sẽ làm cho nước tiếp nhận trở thành con nợ quốc tế. Thứ năm, FDI gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các công ty xuyên quốc gia thực hiện (TNCs). Đây là những tập đoàn có hệ thống các chi nhánh sản xuất ở nước ngoài, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ, nhãn hiệu sản phẩm có uy tín và thương hiệu đã được khẳng định trên toàn cầu; đội ngũ các nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng điều hành các hoạt động sản xuất và phân phối trên toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao.