CHƯƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC THU HÚT GIẢNG VIÊN CHẤT LƯỢNG CAO Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC HIỆN NAY 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cơ sở giáo dục đại học, giảng viên, giảng viên chất lượng cao 1.
Khái niệm cơ sở giáo dục đại học Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về chất lượng giáo dục ở bậc đại học nhằm nâng cao chất lượng ở bậc học này, tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đưa ra khái niệm cơ sở giáo dục đại học. Sự thiếu vắng khái niệm này có thể được giải thích dựa theo hai hướng. Thứ nhất là cách hiểu khái niệm cơ sở giáo dục đại học không ảnh hưởng đến cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của các nhà nghiên cứu. Thứ hai là nhiều nhà nghiên cứu có sự “mặc định” về cách hiểu khái niệm cơ sở giáo dục đại học thông qua việc liệt kê các nơi có chức năng đào tạo giáo dục đại học theo Luật giáo dục năm 2012.
Cụ thể, theo Điều 7 của Luật Giáo dục đại học, cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: (1) Trường cao đẳng; (2) Trường đại học, học viện; (3) Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học); (4) Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ. Nói cách khác, Luật giáo dục đã liệt kê một cách chi tiết và cụ thể những cơ sở được gọi là cơ sở giáo dục đại học từ cao đẳng trở lên. Với cách tiếp cận tương tự, Luật Giáo dục năm 2012 hiểu khái niệm cơ sở giáo dục đại học bằng cách đưa ra liệt kê các cơ sở đào tạo sau đại học. Đây là cách hiểu trực quan, đơn giản dễ nắm bắt và tránh được sự tranh cãi.
11 Tuy nhiên để hiểu được bản chất, đặc điểm của cơ sở giáo dục đại học, cần thiết phải có cách tiếp cận bổ sung; đó là cách tiếp cận từ nguồn gốc hình thành hay còn gọi là hình thức của các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam. Theo đó, cơ sở giáo dục đại học Việt nam được tổ chức theo các loại hình: (1) Cơ sở giáo dục đại học công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; (2) Cơ sở giáo dục đại học tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất; (3) Cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài gồm: cơ sở giáo dục đại học có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở giáo dục đại học liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước. Ngoài ra còn có thể xem xét các cơ sở giáo dục đại học dưới góc độ lợi nhuận. Lấy mục tiêu lợi nhuận làm cơ sở nghiên cứu, có thể tiếp cận các cơ sở giáo dục bao gồm: cơ sở giáo dục phi lợi nhuận và cơ sở giáo dục hướng đến lợi nhuận.
“Cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận là cơ sở giáo dục đại học mà phần lợi nhuận tích lũy hằng năm là tài sản chung không chia, để tái đầu tư phát triển cơ sở giáo dục đại học; các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất trái phiếu Chính phủ” (Khoản 7, Điều 4 Luật Giáo dục đại học). Như vậy có thể hiểu một cách khái quát, cơ sở giáo dục đại học là những nơi có chức năng đào tạo các trình độ từ cao đẳng trở lên do nhà nước hoặc tư nhân thành lập vì mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật về giáo dục đại học của Việt Nam. Định nghĩa này cho thấy, cơ sở giáo dục đại học có những đặc điểm quan trọng: 12 Thứ nhất là những cơ sở được nhà nước cho phép tổ chức đào tạo từ trình độ cao đẳng trở lên. Thứ hai, những cơ sở này có thể do nhà nước hoặc tư nhân thành lập.
Thứ ba, những cơ sở này hoạt động vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, Thứ tư, những cơ sở này hoạt động theo quy định của Luật Giáo dục đại học. Khái niệm giảng viên Theo tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền (2011), giảng viên là “tên gọi chung người làm công tác giảng dạy ở các trường chuyên nghiệp, các lớp đào tạo, huấn luyện các trường trên bậc học phổ thông”. Cách hiểu này của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền tương đối rộng và khác với cách hiểu trong Luật Giáo dục năm 2005, vì người làm công tác giảng dạy ở các trường cao đẳng nghề cũng được gọi là giảng viên, trong khi đó những người giảng dạy ở các trường trung cấp chuyên nghiệp lại gọi là giáo viên chứ không phải giảng viên. Luật Giáo dục năm 2005 (Điều 70) cho rằng nhà giáo (những người làm nhiệm vụ giảng dạy trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác) giảng dạy ở các cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên.
Những cơ sở giáo dục gọi là cơ sở giáo dục đại học lại được quy định trong Luật Giáo dục đại học năm 2012. Tuy nhiên cách hiểu dùng từ “giảng dạy” tại Điều 7 của Luật Giáo dục 2005 chưa được giải thích rõ ràng và khoa học, bởi cụm từ “giảng dạy” có thể hiểu theo một số cách khác nhau. Giảng dạy được hiểu là một hoạt động liên quan đến việc trình bày bài học cho đối tượng học. Hoặc giảng dạy là một công việc.
Hoặc giảng dạy là một nhiệm vụ chính thường xuyên, liên tục của người thực hiện giảng dạy. Trên thực tế, với sự hội nhập và tương tác giữa nhà trường và các thành phần khác của xã hội, nhiều cơ sở giáo dục đại học mời những người làm công tác thực tiễn ở các công ty, các cơ quan nhà nước, tổ chức khác tới dạy một hoặc một vài môn học nào đó cho trường. Những người này cũng 13 thực hiện hoạt động giảng dạy và tuân thủ theo các quy định của nhà trường, nhưng không thể gọi họ là giảng viên của cơ sở đào tạo giáo dục. Nói cách khác, để được gọi là giảng viên của cơ sở đào tạo sau đại học cần phải đáp ứng những khía cạnh sau: Thứ nhất, những đối tượng được gọi là giảng viên khi những đối tượng đó chọn hoạt động giảng dạy như là một nghề nghiệp chính thức và lâu dài.
Thứ hai, họ phải đang thuộc sự quản lý thường xuyên, liên tục của các cơ sở giáo dục sau đại học theo hình thức biên chế hoặc hợp đồng. Thứ ba, những đối tượng này phải được xếp vào ngạch giảng viên. Theo cách hiểu này, thì những giảng viên đã nghỉ hưu nếu vẫn được mời tham gia giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, hoặc có mong đợi tham gia vào các cơ sở giáo dục đại học thì vẫn được gọi là giảng viên vì họ đã chọn công việc giảng dạy làm nghề để gắn bó lâu dài và họ đã từng hưởng ngạch giảng viên. Do đó, giảng viên là người làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thực hành) được hiệu trưởng công nhận chức vụ và phân công công tác giảng dạy hoặc những cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc trong hay ngoài trường, tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm.
Cho nên, ph m chất trí tuệ là yêu cầu rất cao đối với người giảng viên. Từ chất sáng tạo đó biểu hiện trong năng lực hoạt động giảng dạy, trong hoạt động nghiên cứu khoa học và trong toàn bộ quá trình sáng tạo để hình thành nên toàn bộ nhân cách sáng tạo của một con người – sản phẩm cần thiết và tất yếu của quá trình dạy học. Bởi vậy, hơn bất cứ một nghề nghiệp nào khác, nghề giảng dạy đại học đòi hỏi mỗi giảng viên phải phát huy năng lực sáng tạo của mình một cách cao nhất. Một đặc điểm nữa là trong thời đại ngày nay, người giảng viên phải là một tấm gương sáng về đạo đức và tinh thần tự học, tự vươn lên để hoàn thiện mình.
Mỗi giảng viên là một mẫu mực về ý chí học, về tinh thần nhân ái, nhân văn thương yêu con người, quý trọng con người. 14 Vai trò của giảng viên Giảng viên tham gia đào tạo nguồn lực con người, tạo ra lực lượng lao động mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực dáp ứng yêu cầu của xã hội. Nguồn nhân lực chất lượng cao chính là động lực phát triển của xã hội. Vai trò của giảng viên còn được thể hiện ở việc góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tạo ra lớp trí thức tài năng thông qua việc truyền đạt những kiến thức tiên tiến của văn minh nhân loại.
Tất cả những trí thức ấy sẽ góp phần xây dựng đất nước, nâng cao nội lực của quốc gia tạo nên vị thế cao của đất nước trên trường quốc tế. Giảng viên có vai trò góp phần nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia thông qua hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai. Đảm nhận vai trò này, giảng viên đã, đang và sẽ góp phần nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia. Hay nói cách khác, giảng viên là những người có kiến thức và vốn hiểu biết rộng trong lĩnh vực chuyên môn.
Lực lượng giảng viên ở tất cả các trường ĐH vì vậy đã trở thành đại diện tiêu biểu cho hầu hết các ngành khoa học hiện có của quốc gia. Giảng viên ĐH vừa là nhà giáo vừa là nhà khoa học. Họ hội tụ đủ cả năng lực, ph m chất của nhà giáo lẫn nhà khoa học. Họ vừa giảng dạy, vừa tham gia NCKH.
Trí thức giáo dục đại học là một bộ phận đặc thù của trí thức Việt Nam Tóm lại, giảng viên (gọi tắt của từ giảng viên đại học) là những người chọn việc giảng dạy như một nghề nghiệp chính thức và lâu dài, được xếp vào ngạch giảng viên và đã hoặc đang chịu sự quản lý thường xuyên và liên tục của cơ sở giáo dục đại học. Khái niệm giảng viên chất lượng cao Giảng viên chất lượng cao là một khái niệm trung tâm trong việc phát triển chất lượng giảng viên, chất lượng giảng dạy và câu chuyện thu hút giảng viên giỏi vào các cơ sở giáo dục đại học.