Chương 1: Giới thiệu. Chương này giới thiệu về đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và bố cục đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Với hai mục tiêu nghiên cứu, hệ thống cơ sở lý thuyết của luận án cũng bao gồm hai nhóm cơ sở lý thuyết khác nhau, gồm: (1) nhóm các khuôn khổ lý thuyết về mối quan hệ giữa giá rao bán, giá bán và thời gian rao bán trên thị trường nhà ở để thông qua đó thấy được sự mâu thuẫn giữa các lập luận lý thuyết về các mối quan hệ giữa thời gian rao bán và giá bán trên thị trường nhà ở.
Và (2) nhóm khuôn khổ lý thuyết liên quan đến hành vi tìm kiếm trên thị trường nhà ở. Nội dung này nhằm tạo cơ sở cho tác giả tiến hành phát triển mô hình lý thuyết nhằm phân tích ảnh hưởng của các đặc tính của căn nhà cũ lên hành vi mua nhà hiện tại của người mua dựa trên khuôn khổ lý thuyết tìm kiếm trên thị trường nhà ở. Ngoài ra, trong nội dung chương này, tác giả luận án cũng tiến hành trình bày cơ sở lý thuyết của mô hình khả năng bán nhà Cox, nhằm cung cấp cơ sở cho việc đo lường ảnh hưởng của chiến lược rao giá và các đặc tính khác của nhà ở tác động lên khả năng bán của nhà ở. 23 Chương 3: Kết quả phân tích mối quan hệ giữa chiến lược rao giá đối với giá bán, thời gian rao bán, và khả năng bán của căn nhà.
Phần đầu tiên trong nội dung chương này, tác giả luận án sẽ tiến hành thảo luận về bộ dữ liệu và các biến số sẽ được sử dụng trong các mô hình nghiên cứu. Tiếp sau đó là phần thảo luận về phương pháp và kết quả đo lường chiến lược rao giá của người bán. Sau đó, chiến lược rao giá này sẽ được sử dụng làm biến giải thích trong các mô hình đo lường ảnh hưởng đến giá bán và thời gian rao bán của người bán. Kết quả đo lường ảnh hưởng của chiến lược rao giá đến mức giá bán và thời gian rao bán của nhà ở sẽ giúp tác giả luận án trả lời ba câu hỏi đầu tiên trong mục tiêu nghiên cứu số 1 của luận án.
Phần tiếp theo trong chương này, tác giả luận án sẽ thảo luận về phương pháp đo lường khả năng bán của nhà ở tương ứng với các mốc thời gian khác nhau theo mô hình khả năng bán nhà Cox như đã thảo luận trong phần cở sở lý thuyết. Sau đó, kết quả ước tính các mô hình khả năng bán Cox tương ứng với các mốc thời gian rao bán 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng sẽ giúp tác giả luận án trả lời câu hỏi nghiên cứu số 4 của mục tiêu nghiên cứu số 1 của luận án về ảnh hưởng của chiến lược rao giá và các đặc tính của nhà ở lên khả năng bán của căn nhà. Chương 4: Phát triển mô hình lý thuyết phân tích ảnh hưởng của căn nhà trước đây của người mua lên hành vi tìm kiếm hiện tại của người mua nhà. Trong nội dung chương này, tác giả luận án sẽ tiến hành phát triển mô hình lý thuyết về phân tích ảnh hưởng của căn nhà cũ lên hành vi của người mua nhà dựa trên các cơ sở lý thuyết của mô hình phân tích hành vi tìm kiếm trên thị trường nhà ở của người mua nhà.
Dựa trên kết luận của mô hình lý thuyết được phát triển, tác giả luận án tiến hành kiểm định thực nghiệm ảnh hưởng của các đặc tính của căn nhà cũ đối với hành vi mua nhà của người mua thông qua việc đo lường sự khác biệt trong mức giá chấp nhận chi trả kỳ vọng giữa 2 nhóm người mua nhà khác nhau: nhóm 24 người mua có căn nhà cũ bị ngập và nhóm người mua có đặc tính căn nhà cũ không bị ngập. Việc phát triển mô hình lý thuyết và kết quả kiểm định thực nghiệm sẽ giúp tác giả luận án trả lời các câu hỏi của mục tiêu nghiên cứu số 2 của luận án. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tổng kết những đóng góp mới từ kết quả nghiên cứu mà đề tài đã đạt được và đưa ra các kiến nghị về phía người mua và người bán.
25 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Một số khái niệm chính được sử dụng trong nghiên cứu 2.1 Khái niệm về nhà ở riêng lẻ Dựa trên phân loại của tổng điều tra dân cư và nhà ở Việt Nam (2009) thì các dạng nhà ở tại Việt Nam được phân thành ba loại cơ bản sau: nhà kiên cố, nhà bán kiên cố và nhà tạm. Tuy nhiên, các phân loại này khó có thể hiểu được một cách chính xác các loại nhà ở đa dạng tại các khu vực đô thị Việt Nam (Seo và Kwon, 2017). Còn theo phân loại của chương trình định cư con người Liên hợp quốc (United Nations Human Settlements programme, viết tắt là UNHabitat) thì nhà ở khu vực đô thị Việt Nam được phân thành năm loại gồm: nhà cửa hàng (shop house), nhà hẻm (alley house), biệt thự (villa), nhà tạm (precarious squatter house), và căn hộ (apartment). Trong đó, nhà cửa hàng và nhà hẻm là hai loại nhà tương tự nhau, chỉ khác biệt là tầng trệt của nhà cửa hàng được dùng cho mục đích thương mại như mở cửa hàng kinh doanh hoặc cho thuê kinh doanh, và do đó nhà cửa hàng thường có vị trí mặt tiền đường và ngược lại.
Còn theo phân loại của Ngân hàng Thế Giới (World Bank – WB) thì nhà ở khu vực đô thị của Việt Nam cũng được phân chia thành năm loại gồm: nhà phố cũ (old town house), nhà phố mới (new town house), biệt thự, nhà tạm và căn hộ chung cư. Trong đó, nhà phố cũ và nhà phố mới theo phân loại của WB cũng chính là phân loại nhà cửa hàng và nhà hẻm như phân loại của UNHabittat. Hai loại nhà này có cấu trúc gần tương tự nhau là đều hẹp – dài, bình quân 34 tầng và đặc biệt là lấp đầy gần như 100% diện tích khu đất, do đó Seo và Kwon (2017) gộp chung hai loại nhà này thành một loại duy nhất, gọi là nhà ống (row house hay tube house). Do đó, trong nghiên cứu của mình, Seo và Kwon (2017) phân chia nhà ở tại TP.HCM thành nhà ở riêng lẻ (singlefamily house) gồm nhà tạm, nhà ống và nhà biệt thự; và nhà ở nhiều hộ gia đình (multifamil house) là các căn hộ chung cư.
26 Từ những định nghĩa trên, nhà ở riêng lẻ trong khu vực TP.HCM được xác định gồm ba dạng nhà ở: nhà ở biệt thự, nhà ở liền kề dạng nhà ống và nhà tạm. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của luận án này, nhằm hạn chế sự sai lệch trong dữ liệu nghiên cứu, nhà tạm sẽ được loại bỏ ra khỏi phạm vi nghiên cứu, do đó đối tượng nghiên cứu là nhà ở liền kề dạng nhà ống và biệt thự trong khu vực đô thị TP.2 Một số khái niệm về giá của nhà ở Giá rao bán Theo dịch vụ đăng kê bất động sản (BĐS) Mỹ (MLS Multiple listing service) thì giá rao bán (listing price) cũng chính là mức giá mà người bán yêu cầu đối với căn nhà đang rao bán của họ (asking price), và đây chính là số tiền được liệt kê trên dịch vụ đăng kê bất động sản. Trong phạm vi luận án này, tác giả xác định giá rao bán của nhà ở là mức giá mà người bán (hoặc môi giới của người bán) công bố với người mua (hoặc nhà môi giới của người mua) trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các sàn giao dịch. Giá giao dịch hay giá bán Giá giao dịch (transaction price) hay giá bán (Selling price/Sale price) là mức giá mà tài sản thực sự được bán, số tiền này đại diện cho mức giá mà người mua sẵn lòng trả và người bán sẵn lòng nhận trong giao dịch một tài sản BĐS (MLS).
Khi giao dịch được thực hiện thì giá bán của tài sản đó sẽ được xác định. Mức giá này chịu tác động của mối quan hệ cung và cầu hiện tại trên thị trường bất động sản trong khu vực, điều kiện của bất động sản so với những bất động sản tương tự đã bán trong khu vực nên mức giá bán có thể cao hơn hay thấp hơn hoặc ngang bằng với mức giá rao bán. 27 Như vậy, trong phạm vi luận án này, tác giả xác định giá bán của nhà ở là mức giá thực sự mà người mua trả cho người bán sau quá trình thương lượng giữa hai bên. Mức giá nhà chịu tác động của mối quan hệ cung cầu hiện tại trên thị trường nhà ở trong khu vực, và mức giá này đại diện cho mức giá mà người mua chấp nhận trả và người bán chấp nhận bán trong giao dịch nhà ở.
Mức giá ngưỡng (Reservation Price) hay giá trị đầu tư Theo Miller and Geltner (2005), có hai giá trị ngưỡng gồm giá trị ngưỡng của người mua và giá trị ngưỡng của người bán. Giá trị ngưỡng của người mua là mức giá tối đa mà người mua chấp nhận trả để mua căn nhà, hay được gọi là giá sẵn lòng mua. Giá trị ngưỡng của người bán là mức giá thấp nhất người bán chấp nhận bán căn nhà, hay còn được gọi là giá sẵn lòng bán. Mức giá này khác nhau giữa những người mua nhà do sự khác nhau về sở thích, thị hiếu, khả năng chấp nhận rủi ro, khả năng tài chính và các điều kiện khác liên quan tới thuế.
Trong khuôn khổ lý thuyết tìm kiếm, mức giá ngưỡng được xác định tại điểm dừng tìm kiếm, và do đó trong phạm vi luận án, mức giá ngưỡng của người mua (mức giá ngưỡng mua) được xác định là mức giá cao nhất mà người mua chấp nhận trả để mua căn nhà (điểm dừng tìm kiếm thêm nhà mới), và mức giá ngưỡng của người bán là mức giá thấp nhất mà người bán chấp nhận bán căn nhà (điểm dừng tìm kiếm thêm người mua mới). Mức giá ngưỡng này khác nhau giữa mỗi cá nhân và chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau (Turnbull và Sirmans, 1993). Giá thị trường/Giá kỳ vọng thị trường/Giá hợp lý thị trường (Market Value or Fair market value) Theo luật thuế của Mỹ thì giá thị trường, giá kỳ vọng thị trường hay giá hợp lý thị trường (sau này gọi chung là giá kỳ vọng thị trường của nhà ở) là mức giá của nhà ở khi được giao dịch trong điều kiện cạnh tranh.