CHƯƠNG I THỊ TRƯỜNG NƯỚC KHOÁNG HÀ NỘI VÀ CƠ HỘI XÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG CHO SẢN PHẨM NƯỚC KHOÁNG ALBA 1. Tổng quan về thị trường nước khoáng Hà Nội 1.Quy mô thị trường 1. Đo lường quy mô thị trường Thị trường nước giải khát đóng chai Việt Nam hiện nay là một thị trường có tiềm năng rất lớn - không ngừng phát triển, từ năm 1995 liên tục mở rộng quy mô với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 25% (số liệu nghiên cứu của công ty nghiên cứu thị trường Ac Nielsen – 12/2007), tổng lượng nước uống đóng chai được tiêu thụ năm 2008 tại Việt Nam đã đạt tới con số 530 triệu lít, tăng 18% so với năm 2007 đồng thời dự báo tới năm 2012 sẽ tăng trưởng 46%, tương đương mức tiêu thụ 970 triệu lít. Cùng với 3 nhóm sản phẩm: bia, nước hoa quả và đồ uống có ga, nhóm sản phẩm nước khoáng – nước tinh khiết đóng chai chiếm khoảng 22% tổng sản lượng đồ uống đóng chai trong nước tức là tổng mức tiêu thụ năm 2008 đạt khoảng 116,5 triệu lít và được dự báo mức tăng trưởng 68% đến 2012.
Hiện nay sản phẩm nước khoáng/nước tinh khiết vẫn chủ yếu tập trung tại thị trường thành phố như Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng. Riêng thành phố Hà Nội hiện nay với quy mô dân cư đông đúc (khoảng 6,3 triệu dân; 1,6 triệu hộ gia đình) cùng với lợi thế là thủ đô – trung tâm của rất nhiều hoạt động văn hóa, kinh tế, chính trị của cả nước đang trở thành thị trường rất hấp dẫn cho các sản phẩm nước khoáng trong đó có nước khoáng Alba. Khả năng sinh lời Không giống như nước tinh khiết – là nước máy được xử lý theo phương pháp lọc và diệt khuẩn bằng tia cực tím; nước khoáng là loại nước được khai thác, xử lý trực tiếp tại các nguồn nước tự nhiên có thành phần và nồng độ khoáng thích hợp nên rất tốt cho sức khỏe và còn có tác dụng chữa bệnh. Với dung lượng thị trường Việt Nam lên tới hàng trăm triệu lít, khả năng sinh lợi của sản phẩm nước khoáng là SVTH: Ngô Thị Lý Lớp: Marketing 47B Chuyên đề tốt nghiệp rất lớn, biểu hiện rõ nhất đó là hiện nay trên thị trường Việt Nam có gần 100 nhà cung cấp nước khoáng với hơn 200 thương hiệu khác nhau.
Tốc độ tăng trưởng Dòng sản phẩm nước khoáng, nước tinh khiết có tốc độ tăng trưởng liên tục ở mức hai chữ số, giai đoạn 1995 – 2007 có tốc độ tăng trưởng trung bình là 25% đồng thời tốc độ tăng trưởng tới năm 2012 được dự báo ở mức 46% so với năm 2008. Những năm gần đây thị trường nước đóng chai có tốc độ tăng trưởng chóng mặt cả về dung lượng lẫn số lượng các công ty tham gia thị trường, nhất là các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh các nhãn hiệu nước đóng chai đã rất quen thuộc như Lavie, Vĩnh Hảo, Joy, Aquafina… hiện nay có trên 500 cơ sở sản xuất nước đóng chai. Đặc điểm của thị trường nước khoáng Hà Nội 1.1 Người tiêu dùng Thị trường người tiêu dung Hà Nội rất phong phú, đa dạng về đối tượng: thị trường Hà Nội là nơi tập trung rất đông dân cư với nhiều tầng lớp dân cư khác nhau ở mọi lứa tuổi nên rất đa dạng về đối tượng khách hàng.
Phần lớn khách hàng là những người trẻ tuổi: Theo Báo cáo cơ cấu dân số Việt Nam giai đoạn 1997 – 2007 của Tổng cục thống kê, đến năm 2007 có 42% dân số nước ta nằm trong độ tuổi từ 10 – 34 tuổi, nhất là ở các thành phố và các trung tâm kinh tế phát triển tỉ lệ dân số trẻ còn cao hơn do tập trung nhiều lao động, trí thức là những người trẻ. Khu vực Hà Nội vừa là trung tâm kinh tế với nhiều khu công nghiệp lại vừa là trung tâm giáo dục với rất nhiều các trường đại học, cao đẳng lớn, thu hút rất đông những người trẻ ở các tỉnh lân cận , thị trường có tỉ lệ khách hàng là những người trẻ tuổi rất cao. Phần lớn người tiêu dung đều có độ hiểu biết về sản phẩm nước khoáng không cao, còn nhiều nhầm lẫn. Nước khoáng là loại nước bắt buộc phải có nguồn gốc tự nhiên, được khai thác, xử lý và đóng chai ngay tại nguồn theo những tiêu chuẩn vệ sinh và kỹ thuật rất chặt chẽ để đảm bảo cung cấp các loại khoáng chất có lợi cho SVTH: Ngô Thị Lý Lớp: Marketing 47B Chuyên đề tốt nghiệp sức khỏe của người sử dụng.
Hàm lượng chất khoáng có tác dụng tốt cho sức khỏe chính là điểm làm cho nước khoáng khác hẳn với các loại nước uống tinh khiết – vốn là nước máy được xử lý diệt khuẩn bằng hệ thống lọc, chỉ đơn thuần để giải khát và hoàn toàn không có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên người tiêu dùng trong nước nói chung đều có mức độ hiểu biết rất thấp về đặc tính có lợi này của nước khoáng và rất nhiều người cho rằng nước khoáng, nước tinh khiết, nước lọc là hoàn toàn giống nhau, hơn thế nữa có nhiều người tiêu dùng không phân biệt được đâu là nước khoáng, đâu là nước tinh khiết ngay cả với các nhãn hiệu lớn trên thị trường (nhầm lẫn các loại nước tinh khiết Aquafina, Joy, Laska là nước khoáng, nhầm Lavie, Thạch Bích, Vĩnh Hảo là nước tinh khiết!) 1.2 Đặc điểm cạnh tranh Thị trường nước khoáng Hà Nội có cường độ cạnh tranh gay gắt. Điều này được thể hiện rõ qua số lượng các doanh nghiệp tham gia sản xuất, cung ứng, nhập khẩu sản phẩm nước khoáng. Theo số liệu của phòng Đăng kí Kinh doanh, Sở Kế hoạch Đầu Tư Hà Nội, chỉ riêng trong năm 2008 có 82 doanh nghiệp đăng kí mới có lĩnh vực hoạt động liên quan đến sản xuất nhập khẩu nước khoáng.
Sức ép cạnh tranh từ các sản phẩm thay thế rất mạnh mẽ: Sản phẩm nước khoáng hiện nay đang bị các sản phẩm thay thế nhất là các loại nước tinh khiết cạnh tranh mạnh mẽ. Hiện nay có hơn 500 nhãn hiệu nước đóng chai và nước tinh khiết trên thị trường Việt Nam trong đó nước tinh khiết chiếm hơn 80% với rất nhiều sản phẩm do các cơ sở sản xuất tư nhân cung ứng trên thị trường. Ngoài ra do sự hiểu biết của người tiêu dùng Việt Nam không cao nên rất nhiều khách hàng khi sử dụng nước tinh khiết vẫn tưởng đó là nước khoáng cùng với nhiều hạn chế trong việc tiếp cận thông tin của khách hàng đã làm cho sản phẩm nước khoáng phải chịu cạnh tranh mạnh mẽ của nước tinh khiết. Bên cạnh nước tinh khiết, các sản phẩm đồ uống có ga và nước hoa quả đang có tốc độ tăng trưởng rất cao, nhất là sự “bùng nổ” của các loại nước trà đóng chai trong hai năm gần đây khiến cho sản phẩm nước khoáng càng chịu thêm nhiều áp lực.
SVTH: Ngô Thị Lý Lớp: Marketing 47B Chuyên đề tốt nghiệp 1.3 Hệ thống phân phối Thị trường nước khoáng Hà Nội có hệ thống phân phối với quy mô lớn, đa dạng. Hiện nay có rất nhiều kênh cung ứng nước khoáng trên thị trường Hà Nội, bên cạnh các kênh phân phối truyền thống như các cửa hàng bán lẻ, cửa hàng ăn uống với lợi thế lớn về thời gian và tính tiện lợi vẫn là kênh hiệu quả nhất để tiêu thụ nước khoáng, các kênh phân phối hiện đại nhất là các siêu thị hoặc hình thức bán lẻ tại nhà đang ngày càng trở nên phổ biến. Người cung ứng Hiện nay với phần lớn các sản phẩm nước khoáng trên thị trường, nhà sản xuất đồng thời cũng là nhà cung ứng trực tiếp sản phẩm đó ra thị trường thông qua các kênh phân phối riêng của mình, chỉ có một số ít sản phẩm nước khoáng sản xuất từ nước ngoài (như Evian, Perrier…) được cung ứng ra thị trường thông qua các công ty nhập khẩu. Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường nước khoáng 1.1 Nhu cầu của thị trường Hiện nay nhu cầu đối với việc sử dụng nước khoáng khá cao, khách hàng thường lựa chọn nước khoáng làm nước uống hàng ngày, sau các hoạt động vui chơi thể thao, trong các cuộc họp hội nghị, …Khách hàng chưa đánh giá giá của một chai nước khoáng như Lavie là (cao?, tương đối cao, phải chăng) tuy nhiên do yếu tố uy tín thương hiệu Lavie vẫn là hãng nước khoáng được người tiêu dùng lựa chọn đầu tiên khi ( phân tích spss) khi nhắc đến nước khoáng.
Một đặc điểm đó là người tiêu dùng phần lớn không phân biệt được nước khoáng và nước tinh khiết. Rất nhiều người sử dụng nước khoáng, nước tinh khiết mà không biết mình đang sử dụng loại nào, nhiều người không phân biệt được sự khác nhau, không thể chỉ tên chính xác các hãng nước khoáng và nước tinh khiết, hoặc vẫn chưa xác định được hết các đặc điểm của của nước khoáng và nước tinh khiết khác nhau như thế nào(về quy trình, về thành phần khoáng chất có trong nước khoáng, trong khi nước tinh khiết không chứa bất kỳ thành phần khoáng chất nào cả. SVTH: Ngô Thị Lý Lớp: Marketing 47B Chuyên đề tốt nghiệp Điều này có nguyên nhân một phần hoạt động truyền thông về nước khoáng chưa quan tâm nhấn mạnh làm cho người tiêu dùng không thấy rõ được những lợi ích mà nước khoáng mang lại ngoài tác dụng là giải khát. Trên thực tế, không nên sử dụng quá nhiều nước tinh khiết do nước uống tinh khiết đang có bán nhiều trên thị trường chỉ là nước được lọc nhiều lần nên chỉ đảm bảo về mặt vệ sinh chứ không tốt về mặt sức khoẻ, đặc biệt là khi dùng quá lâu.
Nếu dùng nước tinh khiết quá nhiều hay dùng hoàn toàn trong ăn uống, nhất là trong thời gian dài, cơ thể sẽ thiếu khoáng chất và sinh bệnh thiếu vi chất. Hơn nữa, nhưng loại nước tinh khiết do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất thì yếu tố vệ sinh chưa chắc đã đảm bảo. Nước tinh khiết sản xuất theo dây chuyền hiện đại phải được xử lý qua hệ thống thẩm thấu ngược và ozone, thanh trùng bằng tia cực tím. với trị giá khoảng 1 tỉ đồng.
Những cơ sở nhỏ lẻ không đủ kinh phí đầu tư thường lọc bằng than hoặc sỏi rồi đưa qua hệ thống máy dùng tia cực tím tạo ozone khử trùng rồi đóng chai đem bán. Do đó, khi các hãng nước khoáng truyền thông được đến khách hàng về sự khác biệt giữa nước khoáng và nước tinh khiết. Việc sử dụng nước tinh khiết nhiều là không có lợi cho sức khỏe sẽ có thể mở rộng hàm nhu cầu của khách hang đối với nước khoáng.