CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm về cạnh tranh. Khái niệm về CT luôn có nhiều cách hiểu khác nhau, mỗi lĩnh vực của nền KTCT lại được hiểu và định nghĩa theo những cách khác nhau.
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hóa, là điều kiện sống của mỗi doanh nghiệp nó ảnh hưởng đến mỗi doanh nghiệp, lĩnh vực và các thành phần kinh tế khác nhau. Kinh tế học [3] định nghĩa “ Cạnh tranh là tranh giành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp”.Porter thì: “CT là giành lấy thị phần, bản chất của CT là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi” (1980).Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng CT (Competition) là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để giành KH hoặc thị trường.
Hai tác giả này cho rằng CT tức là CT hoàn hảo (Perfect Competition). nguồn: (http://bsm.vn, cập nhật ngày 20/3/2011). Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) CT (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người SXHH, giữa các thương nhân, các nhà KD trong nền KTTT, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện SX, tiêu thụ trên thị trường có lợi nhất. ( nguồn: http://bsm.vn, cập nhật ngày 20/3/2011).
Trong tác phẩm “Thị trường, chiến lược, cơ cấu” tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm cho rằng CT trên thương trường không cứ là hủy diệt đối thủ của mình mà là 10 phải đem lại cho KH nhiều giá trị gia tăng nhất và khác biệt, lạ hơn để KH lựa chọn những SPDV của mình chứ không lựa chọn ĐTCT. Theo Diễn đàn cao cấp về CT công nghiệp của tổ chức Hợp tác & Phát triển kinh tế (OECD) thì: “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và các vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Ngày nay thì cạnh tranh được cơ bản các nước trên thế giới chấp nhận và xem nó vừa là môi trường và vừa là động lực để phát triển SX, lưu thông hàng hóa và PT nền kinh tế xã hội. Do vậy cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế mà ở đó các DN phải tìm mọi cách, biện pháp và cả nghệ thuật, thậm chí đôi lúc dùng cả thủ đoạn phát huy nội lực và tận dụng ngoại lực để cán đích mục tiêu kinh tế đạt ra.
Thông thường là thống lĩnh thị trường, đoạt lấy KH cũng như các điều kiện SX và phần TT có lợi nhất. Kết quả của sự CT là loại bỏ những đơn vị làm ăn thật sự không hiệu quả và sự lớn mạnh của các công ty làm ăn có hiệu quả. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và bản chất của năng lực cạnh tranh ( NLCT). Khái niệm về NLCT được nêu đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1980.
Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất những sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội, giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp, khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Theo Ủy ban Quốc gia về Hợp tác KT Quốc tế (CIEM) thì: NLCT là năng lực của một DN “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”, quan niệm về NLCT này rõ ràng thiên về tính chất định tính và rất khó để định lượng. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển KT (OECD): NLCT của DN là khả năng tạo ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố SX có hiệu quả làm cho các DN phát triển bền vững trong điều kiện CT quốc tế.
Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về NLCT. Tuy nhiên quan niệm này chưa gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của DN. Porter (2010), Chiến lược cạnh tranh, thì NLCT là khả năng tạo ra những SP có quy trình công nghệ độc đáo, tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu của KH, chi phí thấp, năng suất cao nhằm nâng cao lợi nhuận. Trong báo cáo về khả năng CT toàn cầu WEF (1997) cho rằng: Năng lực canh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp toàn cầu có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đạt ra.
Theo cách tiếp cận từ góc nhìn hiện đại Gs. Ts Nguyễn Bách Khoa cho rằng: “Phương pháp luận xác đinh năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp” thì năng lực của DN nói chung và NLCT của SP nói riêng được hiểu như sau: “Tích hợp các khả năng và nguồn lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên thị trường mục tiêu xác định”. Theo bài giảng bộ môn QTCL của trường đại học Thương mại năm 2017 thì năng lực cạnh tranh là năng lực mà DN thực hiện đặc biệt tốt hơn so với các ĐTCT. Đó là những lợi thế mà các ĐTCT không dễ dàng thích ứng hoặc sao chép, bao gồm NLCT Marketing và NLCT phi Marketing.
Tuy nhiên NLCT cho tới nay thật sự được hiểu một cách chưa thống nhất, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì có thể hiểu NLCT như sau: NLCT của DN là khả năng duy trì và nâng cao LTCT trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ SP và sử dụng có hiệu quả các yếu tố SX nhằm đạt lợi ích KT cao và bền vững. Do vậy, theo cách hiểu này thì bản chất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua các yếu tố sau: - Lượng thị phần trên thị trường hiện tại - Lượng lợi nhuận công ty thu được. - Năng suất lao động cao hơn đối thủ cạnh tranh. 12 - Chất lượng vượt trội so với ĐTCT.
- Khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp. Từ những cách hiểu về NLCT như trên thì ta thấy được rằng việc nâng cao NLCT của DN là điều rất cần thiết và có ý nghĩa rất to lớn so với sự duy trì và phát triển của DN. Mặt khác DN cũng cần tránh cạnh tranh bất hợp pháp làm tổn hại đến lợi ích của xã hội và làm suy yếu chính doanh nghiệp của mình. Khái niệm năng lực marketing và năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp.
Theo Christine Ennew và Nigel Waite trong “Financial Services Marketing”: “An international guilde to principles and practice” định nghĩa: “Năng lực marketing là những kĩ năng và tính chất marketing cần thiết để có thể thực hiện hoạt động kinh doanh trong một ngành kinh doanh nào đó”. Điều này được thể hiện tại nhiều Công ty, các ngành hàng do nếu không có thì họ rất khó để thực hiện được HĐKD”. Năng lực cạnh tranh là sự tích hợp các khả năng, những nguồn lực marketing của doanh nghiệp, mà nhờ đó mà DN có thể đạt được các MT marketing trong HĐKD, góp phần đảm bảo tạo lập sự cân bằng, thích ứng và có hiệu suất cao trong quá trình hoạt động marketing của DN phù hợp với môi trường SXKD. Năng lực cạnh tranh marketing còn được hiểu như một bộ phận cấu thành nên NLCT của DN nói chung.
Đây là NL căn bản sản sinh ra những GTGT cho KH và còn tạo ra sự khác biệt hóa rõ nét trong tương quan với các DN là ĐTCT. Điểm mấu chốt trong việc xem xét, đánh giá năng lực Marketing được hiểu là: khả năng nhận biết những NL, nguồn Marketing mà DN hay tổ chức thấy việc sử dụng đó hiệu quả cao hơn các ĐTCT. Đó là NL cốt lõi hay là NL tạo ra sự khác biệt là nền tảng cho việc đáp ứng các giá trị cao cho KH so sánh với ĐTCT và do đó tạo ra được LTCT. Một NL cốt lõi đạt được khi có sự kết hợp giữa nguồn lực và NL có giá trị trong mối liên hệ với một thị trường hay một đoạn thị trường xác định.
Đi vào tìm hiểu khái niệm NLCT marketing của doanh nghiệp thì có những tài liệu cho rằng: NLCT Marketing là khả năng kết hợp các NL marketing, khả năng 13 thúc đẩy việc sử dụng chúng một cách hiệu quả trên thị trường ứng với mong đợi của KH. Theo bài giảng quản trị chiến lược, bộ môn quản trị chiến lược, khoa quản trị DN, trường ĐHTM thì: “Năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp là tất cả năng lực marketing (năng lực cạnh tranh hiển thị) của doanh nghiệp” như: “năng lực xúc tiến, phân phối, năng lực về chất lượng, giá cả sản phẩm, hệ thống phân phối và dịch vụ sau bán hàng,… của doanh nghiệp”. Từ những khái niệm trên, ta có thể hiểu nâng cao NLCT marketing là bộ phận cấu thành quan trọng không thể thiếu tạo lên NLCT của DN. Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh Marketing và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Theo bài phân tích “Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tê của doanh nghiệp” của GS.Tiến Sĩ Nguyễn Bách Khoa trên TCKH Thương Mại số 4 + 5 năm 2004 đã chỉ ra cách tiếp cận marketing để nhận biết, đánh giá và đo lường NLCT của DN nước ta.