Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao NLCT trong cung ứng dịch vụ KCB của Bệnh viện Chương 2: Thực trạng NLCT trong cung ứng dịch vụ KCB của BVĐKQT Vinmec. Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao NLCT trong cung ứng dịch vụ KCB của BVĐKQT Vinmec. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG CUNG ỨNG DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH VIỆN 1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh sản phẩm- dịch vụ: 1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh: a. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp, và là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hóa.
Có một số định nghĩa về cạnh tranh như sau: Theo Mác thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo Wikipedia thì: " Cạnh tranh (kinh tế) là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình." Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành KH, thị trường”. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: "Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi." Ngoài ra, còn có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh. Từ các định nghĩa trên ta có thể tiếp cận khái niệm, đặc điểm về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh chính là nói đến sự ganh đua nhằm mục tiêu giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự nhằm thu được lợi ích nhiều nhất cho mình. 7 Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh chính là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật có được ( ví dụ như một cơ hội, một dự án, KH. ) với mục đích cuối cùng là kiếm được phần lợi nhuận cao.
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một điều kiện môi trường cụ thể, có những ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm của sản phẩm, thị trường, những điều kiện pháp lý ràng buộc, các thông lệ kinh doanh. Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như: cạnh tranh bằng đặc tính cũng như chất lượng của sản phẩm dịch vụ, hay cạnh tranh bằng giá bán của sản phẩm dịch vụ; hoặc cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm; cũng có thể là cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; hay cạnh tranh thông qua hình thức tiện ích trong thanh toán. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm NLCT. NLCT được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như NLCT quốc gia, NLCT doanh nghiệp, NLCT của sản phẩm và dịch vụ.
NLCT được hiểu là vị thế của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu vượt qua đối thủ cạnh tranh để thu hút KH về phía mình. NLCT là một yếu tố quan trọng để đánh giá sức mạnh cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp bởi đó là yếu tổ tổng hợp của các lợi thế doanh nghiệp có được từ môi trường kinh doanh hay chính từ bản thân nội lực doanh nghiệp. Như vậy, NLCT của doanh nghiệp trước hết được tạo ra từ chính nội bộ hay thực lực của doanh nghiệp. Đó là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tổ chức quản trị doanh nghiệp, tài chính, nhân lực,.
một cách riêng biệt mà cần đánh giá để so sánh với các đối thủ cùng hoạt động trên cùng một lĩnh vực, trong cùng một thị trường. Trên cơ sở đó, muốn tạo nên NLCT đòi hỏi doanh nghiệp cần tạo được lợi thế so sánh với đối thủ của mình. Nhờ vậy, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn những đòi hỏi của KH cũng như lôi kéo được KH từ đối thủ cạnh tranh. 8 Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại thì: “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế” (University of Adelaide, 1997).
Các cấp độ về năng lực cạnh tranh NLCT được xem xét ở những góc độ khác nhau như: NLCT quốc gia, NLCT ngành, NLCT doanh nghiệp, NLCT của sản phẩm và dịch vụ a. NLCT quốc gia Theo Diễn đàn kinh tế thế giới - WEF thì NLCT của quốc gia phụ thuộc vào 12 tiêu chí và được xếp theo thứ tự sau: thể chế, hệ thống của cơ sở hạ tầng, sự ổn định kinh tế vĩ mô, hệ thống về y tế và giáo dục phổ thông, trình độ của giáo dục đại học, hiệu quả của thị trường hàng hóa dịch vụ, hiệu quả của thị trường lao động, mức độ phát triển của thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng của công nghệ, quy mô của thị trường, mức độ phát triển của môi trường kinh doanh và mức độ của sự sáng tạo. WEF xếp hạng NLCT của Việt Nam trong năm 2010 đứng thứ 59 trong số 133 quốc gia được xếp hạng toàn cầu, nghĩa là tăng tới 16 bậc so với năm 2009. Năng lực cạnh tranh ngành Theo Tổ chức hợp tác và phát trển kinh tế, năng lực cạng tranh của ngành được định nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Năng lực cạnh tranh cấp ngành là tổng hợp năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong một ngành và mối quan hệ giữa chúng. NLCT của doanh nghiệp hay của một ngành tùy thuộc vào khả năng sản xuất hàng hóa, dịch vụ, chất lượng, mức giá bằng hoặc thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường mà không cần đến trợ giá. Theo mô hình kim cương của Micheal Porter, NLCT hay lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong nội bộ doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài trong môi trường kinh doanh quốc gia bao gồm: - Nhóm yếu tố do ngành tự quyết định bao gồm: chiến lược phát triển ngành, sản phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ, đầu tư nghiên cứu công nghệ và phát triển sản phẩm, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng. 9 - Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường kinh doanh bao gồm: thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá, chi ngân sách cho hoạt động nghiên cứu triển khai, hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia thị trường.
- Nhóm yếu tố mà Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một phần như: nguyên liệu đầu vào sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng, môi trường quốc tế. - Nhóm các yếu tố hoàn toàn không thể quyết định được như: môi trường tự nhiên, quy luật kinh tế. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo định nghĩa Mehra, NLCT của doanh nghiệp được định nghĩa là “khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp”. Còn theo quan điểm của Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế quốc tế CIEM định nghĩa “NLCT là năng lực của một doanh nghiệp không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Như vậy, NLCT của doanh nghiệp thể hiện khả năng ganh đua, tranh giành về việc thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng tạo sản phẩm mới. Bên cạnh đó, NLCT của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phương thức hiện đại- không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế. Do đó, doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc và thị trường ngày càng được mở rộng thì cần có tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/ dịch vụ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ là khả năng sản phẩm/dịch vụ đó được sử dụng nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp loại sản phẩm/dịch vụ đó.
NLCT của sản phẩm/ dịch vụ chính là sức hút, sự hấp dẫn với sản phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng từ đó được phát triển lên thành NLCT của doanh nghiệp, NLCT của ngành, NLCT của quốc gia. NLCT của sản phẩm/ dịch vụ là yếu tố cơ bản, cốt lõi tạo nên NLCT của ngành (doanh nghiệp), và tổng hợp lại góp phần nâng cao 10 NLCT của quốc gia. Ngược lại NLCT của quốc gia sẽ tạo điều kiện nâng cao NLCT ngành (doanh nghiệp), khi NLCT của doanh nghiệp được nâng cao sẽ tạo nên sức hút với sản phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng từ đó tạo nên NLCT của sản phẩm. Như vậy, NLCT của sản phẩm/ dịch vụ được cấu thành bởi rất nhiều yếu tố, nhưng những yếu tố cơ bản không thể thiếu được đó là: chất lượng sản phẩm, giá cả, tính độc đáo hay sự khác biệt.
Các cấp độ NLCT có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ cho nhau và ràng buộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có sức cạnh tranh thì các thành phần của nó là ngành kinh tế, doanh nghiệp phải có sức cạnh tranh. Cũng vậy, một doanh nghiệp muốn có sức cạnh tranh thì các sản phẩm/dịch vụ chính do nó cung cấp cũng phải có NLCT. Năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh 1.1 Dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện a.
Dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện Hiện nay, dịch vụ là một trong ba ngành trụ cột của nền kinh tế Việt Nam, bao gồm: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Do đó, để hiểu về dịch vụ, cần quan tâm đến khái niệm của loại ngành này.