CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về marketing và chiến lược marketing 1. Khái niệm marketing Theo giới học giả kinh tế tư bản chủ nghĩa thì marketing là một căn cứ có vai trò, có ý nghĩa cả về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn, đặc biệt quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Marketing được coi là một khoa học kinh tế, một nghệ thuật kinh doanh. Nó không ngừng phát huy tác dụng và không ngừng được bổ sung và phát triển. Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đã xuất hiện những cách định nghĩa về marketing khác nhau của các nhà khoa học trên thế giới. Theo Philip Kotler, người được mệnh danh là Cha đẻ của marketing hiện đại: “Marketing là hoạt động của con người hướng tới sự thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi”.
Theo Peter Drucker, nhà kinh tế học cận đại Mỹ: “Marketing là toàn bộ những công việc kinh doanh nhìn theo quan điểm của người tiêu thụ”. Theo hiệp hội marketing Mỹ: “Marketing là quá trình kế hoạch hóa và thực hiện các quyết định về sản phẩm, định giá, xúc tiến và phân phối cho các hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo ra sự trao đổi nhằm thỏa mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức” Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy có nhiều quan điểm về khái niệm marketing. Tuy nhiên, có thể kết luận marketing là các hoạt động mà tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường 1. Vai trò của marketing trong doanh nghiệp Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế, một cơ thể sống của đời sống kinh tế và doanh nghiệp khó có thể tồn tại và phát triển mà không cần các hoạt động marketing.Marketing có vai trò vô cùng quan trọng quyết định và điều phối các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, từ lúc hình thành ý tưởng về một sản phẩm cho đến khi triển khai nhập các yếu tố đầu vào, sau đó tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm trên thị trường.
Theo Philip Kotler, doanh nghiệp phải làm marketing nếu muốn sản phẩm của mình thành 7 công trên thị trường, bởi những lí do sau: - Marketing giúp doanh nghiệp cung cấp những sản phẩm đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng. - Giúp cải tiến sản phẩm, gia tăng dịch vụ, định giá phù hợp ứng phó với những biến động thị trường, giải phóng sản phẩm tồn đọng. - Ứng phó với các đối thủ cạnh tranh giành thị phần. - Kích thích nhu cầu sử dụng, khuyến khích sử dụng sản phẩm mới của khách hàng nhằm nâng cao doanh số của công ty.
- Marketing quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường. Đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường, nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc cho mọi quyết định kinh doanh. Tóm lại, marketing xuất hiện ở tất cả các bước trong quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là một yếu tố không thể thiếu nếu doanh nghiệp muốn thành công. Khái niệm chiến lược marketing Theo Philip Kotler: “Chiến lược marketing là hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn vị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ marketing của mình.
Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các thị trường mục tiêu, đối với phức hệ marketing và mức chi phí cho marketing.” Chiến lược marketing là kim chỉ nam giúp doanh nghiệp định hướng các hoạt động, phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh doanh. Thiếu chiến lược marketing đồng nghĩa với việc doanh nghiệp hoạt động không có phương hướng rõ ràng, sẽ không xác định rõ ràng được: khách hàng của mình là ai? Chiến dịch bán hàng như thế nào? Cạnh tranh với đối thủ ra sao?. Với bất kì mô hình doanh nghiệp nào, tại các thời điểm khác doanh thì mọi doanh nghiệp đều cần có chiến lược marketing rõ ràng, điều này sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra trong khuôn khổ để đạt được mục tiêu kinh doanh. Vị trí của chiến lược marketing trong quy trình quản trị marketing Theo Philip Kotler, quy trình quản trị marketing của doanh nghiệp bao gồm 5 bước: R-STP-S-MM-I,C 8 Trong đó: R là marketing Research, bao gồm các hoạt động nghiên cứu marketing, giúp cho doanh nghiệp biết hoàn cảnh marketing của mình, những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp.
STP là marketing Segmentation, Target market và marketing Positioning, bao gồm các hoạt động phân đoạn thị trường, từ đó chọn thị trường mục tiêu và đưa ra phương án định vị cho thị trường mục tiêu đã chọn. S là Strategy, doanh nghiệp thiết kế các chiến lược marketing cho các thị trường mục tiêu đã chọn MM là Marketing Mix, bao gồm các hoạt động marketing liên quan đến các quyết định về 4 chữ P, Product (sản phẩm), Price (giá), Place (Phân phối) và Promotion (xúc tiến hỗn hợp) I,C là Implementation và Control, bao gồm các hoạt động thực hiện và kiểm soát các hoạt động marketing Như vậy, trong quy trình quản trị marketing, chiến lược marketing có vai trò chính là định hướng cho các hoạt động marketing mix cụ thể phía sau, dựa trên các thông tin đã được thu thập và xử lý ở bước nghiên cứu marketing và các thị trường mục tiêu đã chọn. Chiến lược marketing sản phẩm của doanh nghiệp 1. Chiến lược marketing sản phẩm theo ma trận sản phẩm - thị trường (Ansoff matrix) Hình 1 - 1.
Ma trận sản phẩm - thị trường Chiến lược xâm nhập thị trường (market penetration): các công ty tìm cách 9 tăng doanh số đối với những sản phẩm hiện tại, thông qua một số hoạt động như: + Khuyến khích khách hàng hiện tại mua nhiều hơn + Thu hút khách hàng của đối thủ cạnh tranh + Nhắm tới những khách hàng tiềm năng nhưng hiện tại chưa mua hàng Chiến lược phát triển thị trường (market development): các công ty tìm những phân khúc thị trường mới cho các sản phẩm hiện có của mình, bằng một số hoạt động như: + Đánh giá lại nguồn lực của công ty + Đánh giá các phân đoạn thị trường chưa chọn + Tiến hành phân đoạn thị trường lại Chiến lược phát triển sản phẩm (product development): các công ty xem xét việc phát triển sản phẩm và dịch vụ mới cho các khách hàng hiện tại, chẳng hạn như: + Thêm tính năng mới + Bổ sung dịch vụ giá trị gia tăng + Áp dụng công nghệ mới + Nâng cấp các thuộc tính Chiến lược đa dạng hóa (diversification): các công ty tìm cách phát triển sản phẩm và dịch vụ mới nhằm tấn công vào các thị trường mới, bằng cách: + Phát hiện nhu cầu mới tiềm năng + Phát hiện thị trường mới tiềm năng + Đánh giá ba yếu tố nhu cầu, cạnh tranh và nguồn lực 1. Chiến lược marketing sản phẩm theo vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Theo Philip Kotler, trong quá trình phát triển, mỗi đơn vị kinh doanh của các doanh nghiệp chiếm được thị phần khác nhau trên từng khu vực thị trường, cũng như trên toàn thế giới. Trong nhiều trường hợp, một doanh nghiệp đa ngành có đơn vị kinh doanh này có thị phần lớn và được xem là đơn vị dẫn đầu thị trường về thị phần, nhưng những đơn vị kinh doanh khác chiếm thị phần nhỏ hơn theo các mức 10 độ và đứng sau các đối thủ cạnh tranh. Vì vậy, tuy ở trong cùng một doanh nghiệp, nhưng mỗi đơn vị kinh doanh cần có chiến lược cạnh tranh khác nhau theo vị trí thị phần của mình trên thị trường.
Các nhà nghiên cứu giả sử rằng trong một ngành kinh doanh, các đơn vị kinh doanh được phân loại theo cơ cấu thị phần được phân chia như sau: Thị phần Loại đơn vị kinh doanh trong ngành 40% Đơn vị dẫn đầu thị trường 30% Đơn vị thách thức thị trường 20% Đơn vị theo sau thị trường 10% Đơn vị nép góc thị trường Tùy theo vị trí về thị phần trên thị trường ngành hàng mỗi loại đơn vị kinh doanh có đặc điểm riêng nên cần có mục tiêu và chiến lược thích hợp. Chiến lược sản phẩm của người dẫn đầu thị trường: Trong nhiều ngành kinh doanh có một doanh nghiệp được coi là dẫn đầu thị trường, chiếm thị phần lớn nhất. Doanh nghiệp này thường có hệ thống phân phối lớn, tài chính mạnh, ngân sách cho marketing nhiều, luôn đi đầu trong việc đưa ra sản phẩm mới, thay đổi giá,.Với mục tiêu giữ vững vị trí số một, chiến lược marketing sản phẩm của người dẫn đầu thị trường thường nhằm vào 3 hướng: Mở rộng thị trường cho các sản phẩm nổi trội; bảo vệ thị phần hiện tại cho các sản phẩm của mình và cố gắng tăng lượng sản phẩm tiêu dùng. + Mở rộng thị trường: Khi nhu cầu của thị trường tăng lên, doanh nghiệp dẫn đầu thị trường sẽ có lợi nhiều nhất vì nó đang chiếm thị phần lớn nhất.
Vì vậy, người dẫn đầu luôn tìm nhiều biện pháp marketing để mở rộng thị trường như: tìm khách hàng mới, mở rộng khu vực địa lý, tìm ra tính năng mới của sản phẩm… + Bảo vệ thị phần: Thị trường sản phẩm là miếng bánh mà các doanh nghiệp tìm mọi cách để lấy được phần nhiều. Vì vậy, người dẫn đầu thị trường luôn luôn phải tìm cách đối phó với các hoạt động cạnh tranh để bảo vệ thị phần của họ với từng chủng loại sản phẩm của mình. Để đối phó với đối thủ cạnh tranh, người dẫn đầu thị trường có thể áp dụng 6 chiến lược phòng vệ sau: bảo vệ vị trí, phòng thủ phản công, chiếm lại vị trí đã mất, phòng thủ ngăn ngừa, phòng thủ linh hoạt, rút lui 11 chiến lược. + Mở rộng thị phần: Người dẫn đầu thị trường luôn muốn tăng thị phần hơn nữa, vì thị phần càng lớn thì khả năng cạnh tranh và khả năng có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ tăng lên.
Doanh nghiệp dẫn đầu cần xem xét kỹ ba yếu tố trước khi tăng thị phần của từng dòng sản phẩm: khả năng dẫn đến hành động chống độc quyền của chính quyền; hiệu quả kinh tế; khi tăng thị phần có thể giảm khả năng sinh lời. Chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp thách thức: Tất cả những doanh nghiệp đứng ở vị trí thứ hai, thứ ba là những doanh nghiệp tương đối lớn. Họ luôn mong muốn phát triển doanh nghiệp và tham vọng trở thành người đứng đầu thị trường.